Trang Chủ | Biểu mẫu | Biểu mẫu lao động | Di chúc chung – hiệu lực và thay đổi

Di chúc chung – hiệu lực và thay đổi

Người còn sống có quyền thay đổi di chúc chung hay không? Phần di chúc chung của người đã chết có hiệu lực từ khi nào?

Vụ án tranh chấp thừa kế tài sản giữa nguyên đơn là ông Lê Liêm Ghé với bị đơn là cụ Bùi Thị Lắm (mẹ ông Ghé) được xét xử sơ thẩm tại TAND tỉnh Vĩnh Long và xét xử phúc thẩm tại bản án dân sự phúc thẩm số 72/2009/DS-PT ngày 17-2- 2009 của Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên họp ngày 13-6-2013, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã quyết định hủy bán án dân sự phúc thẩm và bản án dân sự sơ thẩm; giao cho TAND tỉnh Vĩnh Long giải quyết sơ thẩm lại theo hướng nếu không có căn cứ gì mới thì đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

Một trong những vấn đề pháp lý của việc giải quyết vụ án này là xác định hiệu lực của di chúc chung.

Ngày 18-12-2002, cụ Lê Văn Em và vợ là cụ Bùi Thị Lắm lập di chúc tại phòng công chứng với nội dung: “khi chúng tôi qua đời, căn nhà và diện tích 1843 m2 đất…để lại cho con trai Lê Liêm Ghé… hưởng trọn quyền thừa kế…Lê Liêm Ghé phải thực hiện bổn phận nuôi dưỡng cha mẹ cho đến ngày cả hai chúng tôi đều mãn phần…Di chúc này chỉ có hiệu lực sau khi cả hai vợ chồng chúng tôi đều đã qua đời”.

Ngày 16-12-2004, cụ Em chết. Ngày 06-3-2006, cụ Lắm lập di chúc tại phòng công chứng với nội dung: “Nay Lê Liêm Ghé không thực hiện bổn phận…tôi quyết định hủy di chúc chúng tôi lập ngày 18-12-2002…và giao lại quyền thừa kế cho con trai Lê Văn Minh”.

Năm 2007, ông Ghé khởi kiện yêu cầu được hưởng phần di sản của cụ Em. Cụ Lắm không chấp nhận yêu cầu của ông Ghé.

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông Ghé vì cho rằng di chúc chung là hợp pháp; cụ Lắm chỉ có quyền thay đổi ý chí đối với phần tài sản của cụ chứ không có quyền thay đổi với phần di sản của cụ Em.

Tòa án cấp phúc thẩm bác yêu cầu của ông Ghé xin chia thừa kế theo di chúc nhưng lại giành quyền khởi kiện chia thừa kế theo pháp luật phần di sản của cụ Em bằng vụ án khác vì cho rằng di chúc chung có nội dung không rõ ràng.

Quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao là trên cơ sở nhận định:

Di chúc chung của cụ Lắm và cụ Em là hợp pháp nhưng chưa có hiệu lực.

Di chúc chung, nếu không có thỏa thuận khác thì theo pháp luật (Điều 668 BLDS) chỉ có hiệu lực ở thời điểm cụ Lắm và cụ Em đều đã chết.

Trong di chúc chung ngày 18-12-2002 còn có thỏa thuận rõ là di chúc chung chỉ có hiệu lực khi “cả hai vợ chồng chúng tôi đều đã qua đời”.

Do di chúc chung chưa có hiệu lực nên cụ Lắm có quyền thay đổi di chúc đối với phần tài sản của cụ Lắm. Còn đối với phần di sản của cụ Em, tuy cụ Lắm không có quyền thay đổi nhưng phần di chúc đối với di sản của cụ Em cũng chỉ có hiệu lực ở thời điểm cụ Lắm chết. Vì vậy, nay cụ Lắm còn sống, yêu cầu của ông Ghé chưa đủ điều kiện khởi kiện; cần phải trả lại đơn khởi kiện cho ông Ghé và đình chỉ giải quyết vụ án (theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 168 và Điểm I Khoản 1 Điều 192 BLTTDS).

Vấn đề pháp lý có thể rút ra là: Người còn sống có quyền thay đổi di chúc chung đối với phần quyền tài sản của họ. Phần di chúc của người đã chết trong di chuc chung chỉ có hiệu lực khi những người lập di chúc chung đều đã chết, kể cả trong trường hợp người còn sống đã thay đổi di chúc chung.

Leave a Reply