Trang Chủ | Dân Sự Và Tố Tụng Dân Sự | Quyết Định Giám Đốc Thẩm Dân Sự | Vụ Án Dân Sự Về Đòi Tài Sản Là Nhà, Đất

Vụ Án Dân Sự Về Đòi Tài Sản Là Nhà, Đất

Yêu cầu đòi lại tài sản là nhà và đất không được chấp nhận do không đủ căn cứ chứng minh, không phản đối về việc tài sản đã được chuyển nhượng rất nhiều lần

 

QUYẾT ĐỊNH SỐ 06/2003/HĐTP-DS NGÀY 26-02-2003
VỀ VỤ ÁN ĐÒI TÀI SẢN LÀ NHÀ, ĐẤT

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

.......................

Tại phiên toà ngày 26-02-2003 xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự về đòi tài sản là nhà, đất giữa các đương sự :

Nguyên đơn: 1- Ông Lâm A Dưỡng, sinh năm 1935;

2- Bà Phùng A Kíu, sinh năm 1938; uỷ quyền cho con là chị Lâm

Thị Mai, sinh năm 1970;

Cùng trú tại: tổ 9, ấp Phú Mỹ, xã Hiệp Hoà, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu Hương, sinh năm 1950; trú tại số 232F, đường số 4 cư xá Đô Thành, phường 4, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh; uỷ quyền cho anh Trần Minh Quí, sinh năm 1967 trú tại số 232F Nguyễn Đình Chiểu, phường 4, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Đức Bi, sinh năm 1971; trú tại số 70A Liên Hiệp, phường 6, thành phố Vũng Tàu.

NHẬN THẤY:

Căn nhà số 125/9 Phạm Hồng Thái, phường 7, thành phố Vũng Tàu nguồn gốc là của ông Lâm A Dưỡng được Thị trưởng Vũng Tàu cấp đất theo chế độ bệnh binh vào ngày 25-05-1970. Sau đó, ông Lâm A Dưỡng và vợ là bà Phùng A Kíu đã xây cất 1 căn nhà cấp 4 diện tích 83m2 để ở.

Năm 1975, vợ chồng ông Dưỡng chuyển về vùng kinh tế mới ở huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu. Ngày 22-07-1975, ông Lâm A Dưỡng làm giấy uỷ quyền cho ông Mã Văn Liên được đứng tên làm chủ căn nhà, giấy uỷ quyền có xác nhận của chính quyền phường Thắng Nhì. Sau đó, ngày 13-09-1976, ông Mã Văn Liên kê khai và đứng tên chủ quyền nhà; trong bản kê khai nhà, ông Liên có viết là mua nhà 125/9 Phạm Hồng Thái với giá 600 đồng tiền mới. Năm 1980, ông Mã Văn Liên thuận tình ly hôn với vợ là bà Nguyễn Thị Giao. Tại Quyết định số 32/DS ngày 15-09-1980 Toà án nhân dân Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo quyết định: Công nhận thuận tình ly hôn giữa ông Liên và bà Giao; công nhận sự thoả thuận về việc chia tài sản chung vợ chồng; bà Nguyễn Thị Giao được chia căn nhà số 125/9 Phạm Hồng Thái, thành phố Vũng Tàu. Ngày 11-11-1981, bà Giao bán căn nhà 125/9 Phạm Hồng Thái cho anh Đỗ Hoàng Oanh, cán bộ Tổng cục Hậu cần, để làm chỗ ăn ở cho các anh em trong tổ công tác. Ngày 23-04-1984, anh Đỗ Hoàng Oanh uỷ quyền cho anh Phùng Thái Hoà đứng ra bán căn nhà nêu trên. Ngày 24-04-1984, anh Hoà bán nhà cho ông Thái Văn Phương, trú tại số 228 bến Vân Đồn, thành phố Hồ Chí Minh, với giá 130.000 đồng. Ngày 11-12-1991, ông Phương lại bán nhà cho anh Lê Đức Bi với giá 8.000.000 đồng. Năm 1993, anh Bi bán nhà cho bà Nguyễn Thị Thu Hương, bà Hương đã được Uỷ ban nhân dân thành phố Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất số 345 ngày 19-03-1993.

Bà Phùng A Kíu trình bày: sau khi gia đình bà đi vùng kinh tế mới ở huyện Xuyên Mộc, căn nhà số 125/9 Phạm Hồng Thái, thành phố Vũng Tàu, bà không gửi ai trông giữ, không uỷ quyền cho ai sử dụng, Nhà nước cũng không quản lý. Trong những năm từ 1975 đến 1989, bà vẫn thường xuyên về thăm nhà cũ. Cho đến năm 1990, có người báo cho bà biết nhà của vợ chồng bà có người khác chiếm dụng. Bà trở về đòi nhà, khiếu nại đến chính quyền địa phương thì được biết nhà đã sang bán cho rất nhiều người. Hiện nay, căn nhà do bà Nguyễn Thị Thu Hương sở hữu. Nay, ông Dưỡng và bà Kíu yêu cầu bà Hương phải trả lại căn nhà số 125/9 Phạm Hồng Thái, phường 7, thành phố Vũng Tàu hoặc bà Hương phải bồi hoàn cho bà 70 lượng vàng.

Bà Nguyễn Thị Thu Hương khai rằng: Vào tháng 03-1993, bà mua nhà đất ở số 125/9 Phạm Hồng Thái, phường 7, thành phố Vũng Tàu của anh Lê Đức Bi với giá 78 lượng vàng. Khi mua nhà đất, bà sinh sống ở thành phố Hồ Chí Minh nên việc làm thủ tục, giấy tờ chuyển nhượng đều do anh Bi thực hiện, bà không biết nguồn gốc nhà đất, thấy đủ giấy tờ thì bà mua. Sau khi mua nhà, bà đã sang tên trước bạ và đã được Uỷ ban nhân dân thành phố Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất ngày 19-03-1993. Vì vậy, bà không đồng ý trả nhà đất cho nguyên đơn.

Anh Lê Đức Bi khai rằng: nhà đất tại số 125/9 Phạm Hồng Thái, thành phố Vũng Tàu do anh mua của anh Thái Văn Phương; hai bên mua bán có lập giấy tờ, anh đã được Sở Xây dựng đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất vào ngày 14-12-1991. Khi mua nhà đất này, anh không biết nguồn gốc nhà đất là của ông Dưỡng và bà Kíu; sau khi bán nhà, anh Phương đã chuyển đi nơi khác sinh sống, nay không rõ anh Phương ở đâu ? về yêu cầu đòi nhà của ông Dưỡng và bà Kíu, anh cho rằng, anh không có sự liên quan vì nhà đất anh mua có giấy tờ hợp pháp.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 03/DSST ngày 26-04-2000, Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu quyết định :

Bác yêu cầu của ông Lâm A Dưỡng và bà Phùng A Kíu đối với bà Nguyễn Thị Thu Hương về việc đòi lại nhà, đất số 125/9 đường Phạm Hồng Thái, phường 7, thành phố Vũng Tàu.

Ông Lâm A Dưỡng và bà Phùng A Kíu phải nộp 50.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; miễn án phí dân sự có giá ngạch cho ông Dưỡng, bà Kíu.

Ngày 08-05-2000, ông Lâm Văn Đoan là người được nguyên đơn uỷ quyền tham gia tố tụng tại phiên toà sơ thẩm có đơn kháng cáo với lý do: án sơ thẩm xử chưa đúng, chưa mang tính khách quan gây thiệt hại đến quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn, vì không có việc ông Dưỡng uỷ quyền cho ông Mã Văn Liên đứng tên làm chủ căn nhà.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 156/DSPT ngày 04-06-2001, Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định :

- Bác yêu cầu của ông Lâm A Dưỡng, bà Phùng A Kíu đối với bà Nguyễn Thị Thu Hương về việc đòi lại tài sản là căn nhà số 125/9 Phạm Hồng Thái, phường 7, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Án phí: Ông Dưỡng, bà Kíu phải nộp 50.000đồng án phí dân sự sơ thẩm và 50.000đồng án phí dân sự phúc thẩm, cộng là 100.000 đồng. Miễn án phí theo giá ngạch đối với ông Dưỡng, bà Kíu. Hoàn trả ông Dưỡng, bà Kíu tiền tạm ứng án phí theo phiếu thu 006159 ngày 22-05-1999.

Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Lâm Văn Đoan đại diện cho bà Kíu và ông Dưỡng có đơn khiếu nại yêu cầu bà Hương phải trả nhà đất. Viện Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh có Công văn số 570 ngày 18-07-2001 đề nghị Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị Bản án phúc thẩm trên.

Tại Quyết định số 20/KN-DS ngày 25-04-2002, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã kháng nghị Bản án phúc thẩm nêu trên với nhận định :

"Nhà đất toạ lạc số 125/9 Phạm Hồng Thái thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông Lâm A Dưỡng và bà Phùng A Kíu. Theo tài liệu xác minh của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tại Sở Xây dựng tỉnh thể hiện “ đơn xin phép được uỷ quyền” lập ngày 22-07-1975 có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cách mạng khóm Chùa Ông và Uỷ ban nhân dân cách mạng phường Thắng Nhì cùng ngày với nội dung ông Dưỡng uỷ quyền cho ông Mã Văn Liên được đứng tên làm chủ nhưng không có bản chính, chỉ có duy nhất một bản photo và không có chữ ký của người được uỷ quyền là ông Mã Văn Liên. Bà Kíu trước sau khẳng định, khi vợ chồng bà đi vùng kinh tế mới tại Xuyên Mộc, nhà 125/9 không gửi ai, chữ ký “Dưỡng” trong giấy uỷ quyền lập ngày 22-07-1975 không phải của ông Dưỡng, vì ông Dưỡng là người không biết chữ, nay bà đề nghị được giám định chữ ký trên. Hơn nữa, tại “Mẫu kê khai biển số nhà” về căn nhà 125/9 do ông Liên đứng tên kê khai nhà có nguồn gốc mua với giá 600đồng (tiền mới), nhưng trong hồ sơ lưu trữ tại Sở Xây dựng không có một văn bản nào thể hiện việc ông Dưỡng và ông Liên mua bán căn nhà nói trên. Quyết định công nhận thuận tình ly hôn giữa ông Liên và bà Giao là đúng pháp luật. Nhưng về tài sản lại giao cho bà Nguyễn Thị Giao là không đúng vì vợ chồng ông Liên và bà Giao không phải là chủ sở hữu. Do vậy, việc mua bán nhà 125/9 Phạm Hồng Thái của những người sau này đều bị vô hiệu và việc Uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cho phép được chuyển nhượng nhà 125/9 và công nhận quyền sở hữu nhà cho bà Giao, ông Bi, bà Hương đều vi phạm pháp luật. Mặt khác, quá trình điều tra, xét xử các cấp Toà án không đưa ông Liên, bà Giao vào tham gia tố tụng là thiếu sót”.

Đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xử huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 03 ngày 26-04-2000 của Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và Bản án dân sự phúc thẩm số 156/PTDS ngày 14-06-2001 của Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh. Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu điều tra, xét xử sơ thẩm lại.

XÉT THẤY:

Nguồn gốc nhà, đất số 125/9 Phạm Hồng Thái, thành phố Vũng Tàu là của ông Lâm A Dưỡng. Tại giấy uỷ quyền ghi tên ông Dưỡng đề ngày 22-07-1975, ông Dưỡng uỷ quyền cho ông Mã Văn Liên được đứng tên làm chủ căn nhà trên; cuối năm 1975, gia đình ông Dưỡng chuyển đến vùng kinh tế mới ở huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Năm 1980, ông Mã Văn Liên kê khai và sang tên trước bạ là chủ sở hữu căn nhà số 125/9 Phạm Hồng Thái. Năm 1980, ông Mã Văn Liên thuận tình ly hôn với vợ là bà Nguyễn Thị Giao. Tại Quyết định số 32/DS ngày 15-09-1980, Toà án nhân dân Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo quyết định: Công nhận thuận tình ly hôn giữa ông Liên và bà Giao; công nhận sự thoả thuận về việc chia tài sản chung vợ chồng, bà Nguyễn Thị Giao được chia căn nhà số 125/9 Phạm Hồng Thái. Ngày 11-11-1981, bà Giao bán nhà số 125/9 Phạm Hồng Thái cho anh Đỗ Hoàng Oanh; ngày 23-04-1984, anh Oanh uỷ quyền cho anh Phùng Thái Hoà đứng ra bán căn nhà nêu trên; ngày 24-04-1984, anh Hoà bán nhà cho ông Thái Văn Phương; ngày 11-12-1991, ông Phương bán nhà cho anh Lê Đức Bi; tháng 3 năm 1993, anh Bi bán nhà cho bà Nguyễn Thị Thu Hương; ngày 19-03-1993, bà Hương được Uỷ ban nhân dân thành phố Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu căn nhà 125/9 Phạm Hồng Thái. Bà Kíu khai nhận, khi đi vùng kinh tế mới bà khoá cửa nhà không uỷ quyền nhà, không gửi nhà cho ai và thỉnh thoảng bà có về thăm nhà cũ ở thành phố Vũng Tàu, trong khi đó, căn nhà 125/9 Phạm Hồng Thái được chuyển dịch, mua bán qua nhiều người và nhiều hộ gia đình ở đó trong một thời gian dài, nhưng bà Kíu không có bằng chứng gì thể hiện sự phản đối các hộ ở và chuyển dịch quyền sở hữu nhà cho nhau. Do đó, không có căn cứ chấp nhận lời khai của bà Kíu. Mặt khác, sau khi có Quyết định số 32/DS ngày 15-09-1980 của Toà án nhân dân Đặc khu Vũng Tàu- Côn Đảo, do không có đơn kháng cáo hoặc khiếu nại nên quyết định nêu trên đã có hiệu lực pháp luật. Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có ý kiến là: sau khi có Quyết định kháng nghị số 20/KN-DS ngày 25-04-2002, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã xem xét hồ sơ vụ án ly hôn giữa ông Mã Văn Liên với bà Nguyễn Thị Giao, nhưng không có cơ sở kháng nghị Quyết định thuận tình ly hôn số 32/DS ngày 15-09-1980 của Toà án nhân dân Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo. Do đó, về pháp lý thì căn nhà số 125/9 Phạm Hồng Thái thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị Giao. Vì vậy, việc bà Giao bán nhà cho anh Đỗ Hoàng Oanh và các hợp đồng mua bán nhà sau đó đều hợp pháp. Hơn nữa, từ đó đến nay, không có cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nào kết luận về việc chuyển dịch, mua bán căn nhà 125/9 Phạm Hồng Thái, thành phố Vũng Tàu là bất hợp pháp. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm bác yêu cầu của ông Dưỡng và bà Kíu đòi bà Hương trả căn nhà 125/9 Phạm Hồng Thái, thành phố Vũng Tàu là có cơ sở.

Bởi các lẽ trên và căn cứ vào khoản 1 Điều 77 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự,

QUYẾT ĐỊNH:

Giữ nguyên Bản án dân sự phúc thẩm số 156/PTDS ngày 14-6-200l của Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh.

Lý do không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao

Trong vụ án này, bà Phùng A Kíu (phía nguyên đơn) nêu rằng, khi gia đình bà đi vùng kinh tế mới vào cuối năm 1975, không uỷ quyền cho ai đứng tên làm chủ, không gửi nhà cho ai, thỉnh thoảng bà vẫn về thăm nhà. Tuy nhiên, suốt từ cuối năm 1975 đến tháng 03-1993, căn nhà đã được chuyển nhượng qua rất nhiều người (nếu vẫn về thăm nhà, tại sao bà Kíu không biết) nhưng bà Kíu không hề phản đối gì. Các hợp đồng mua bán nhà đất đều hợp pháp.

Rõ ràng lời khai của bà Kíu là không có căn cứ. Do đó, không thể chấp nhận yêu cầu đòi lại nhà của ông Lâm A Dưỡng và bà Phùng A Kíu.

  • Version 6
  • Download 4
  • File Size 0.00 KB
  • File Count 1
  • Create Date 2015-05-14
  • Last Updated 2020-05-31
File
QD_so06-2003-HDTP-DS.doc

Leave a Reply