Trang Chủ | Dân Sự Và Tố Tụng Dân Sự | Quyết Định Giám Đốc Thẩm Kinh Doanh Thương Mại | Tranh Chấp Hợp Đồng Hợp Tác Thăm Dò Khai Thác, Kinh Doanh Đá Puzzolan

Tranh Chấp Hợp Đồng Hợp Tác Thăm Dò Khai Thác, Kinh Doanh Đá Puzzolan

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 03/2006/KDTM-GĐT
NGÀY 05-4-2006 VỀ VỤ ÁN “TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG HỢP TÁC THĂM DÒ, KHAI THÁC, KINH DOANH ĐÁ PUZZOLAN”

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

...

Ngày 05 tháng 4 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao, đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án kinh doanh thương mại về tranh chấp hợp đồng hợp tác thăm dò khai thác, kinh doanh đá Puzzolan giữa:

Nguyên đơn: Công ty cổ phần khoáng sản Minh Tiến; có trụ sở tại 99 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Bến Thành, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Công ty khoáng sản Vinaconex; có trụ sở tại 75 Lê Hồng Phong, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

NHẬN THẤY:

Ngày 26-6-1997 giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại dịch vụ Minh Tiến (nay là Công ty cổ phần khoáng sản Minh Tiến, sau đây gọi tắt là Công ty Minh Tiến) và Công ty khoáng sản tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Công ty khoáng sản Vinaconex thuộc Tổng công ty xuất nhập khẩu xây dựng Vinaconex-Bộ xây dựng, sau đây gọi tắt là Công ty khoáng sản) đã cùng nhau ký kết hợp đồng nguyên tắc số 10B/HĐKT với nội dung: Hai bên hợp tác góp vốn thăm dò, xin giấy phép, thiết kế, khai thác, sản xuất và kinh doanh đá Puzzolan tại khu vực mỏ Núi Thơm, xã Long Tân, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Trong đó bên Công ty khoáng sản đóng góp mỏ, làm các thủ tục trình duyệt và xin giấy phép khai thác mỏ bằng tiền vốn của Công ty Minh Tiến, chịu trách nhiệm tư cách pháp nhân trong việc khai thác mỏ và ký hợp đồng bán sản phẩm, còn Công ty Minh Tiến chịu trách nhiệm đầu tư toàn bộ vốn bằng tiền hoặc hiện vật cho các công việc thăm dò, xin giấy phép, làm thủ tục cấp quyền khai thác, lập luận chứng kinh tế - kỹ thuật đến đền bù, giải toả, xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị v.v...

Ngày 20-6-1998 Bộ Công nghiệp cấp giấy phép số 1220/QĐ-ĐCKS cho Công ty khoáng sản tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu được phép khai thác mỏ đá Puzzolan trong thời hạn 20 năm.

Ngày 27-1-1999 hai bên ký kết hợp đồng kinh tế số 02/HĐKT/98 quy định chi tiết quyền và nghĩa vụ của các bên về khai thác, chế biến và kinh doanh khoáng sản ở mỏ Núi Thơm; lợi nhuận được chia theo tỷ lệ: Công ty khoáng sản 14% và Công ty Minh Tiến 86%.

Thực hiện hợp đồng kinh tế đã ký, thời gian đầu hai bên cùng nhau đi đo đất, đếm cây, lên kế hoạch đền bù, giải toả để tiến hành khai thác.

Sau khi Uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu có Quyết định số 7216/QĐ-UB ngày 23-12-1999 phê duyệt kinh phí đền bù là 1.911.401.043 đồng, ngày 3-4-2000 Công ty khoáng sản có công văn số 35/CVKS yêu cầu Công ty Minh Tiến chuyển vào tài khoản của Công ty khoáng sản toàn bộ số tiền đền bù trước
ngày 10-4-2000, nhưng Công ty Minh Tiến không thực hiện. Trong thời gian này, Công ty Minh Tiến cùng 4 công ty khác có đơn khiếu nại và kiến nghị gửi Thường trực Uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tỉnh uỷ và các ban ngành tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cho rằng hợp tác với Công ty khoáng sản là không bình đẳng và bất công, đề nghị xét cấp lại giấy phép khai thác mỏ cho mình là doanh nghiệp đã đầu tư vốn.

Uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã tổ chức nhiều cuộc họp để giải quyết những vướng mắc, tranh chấp nhưng không giải quyết được và có công văn số 2620/UB-VP ngày 4-8-2000 gửi Công ty Minh Tiến đề nghị liên hệ với Toà án để giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế theo thẩm quyền.

Ngày 7-8-2000 Công ty khoáng sản có công văn số 121/CV-KS gửi Công ty Minh Tiến thông báo chấm dứt hợp đồng kinh tế đã ký và xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế; đồng thời đã tự đền bù, giải toả mặt bằng, xây dựng cơ sở vật chất và đã đi vào sản xuất ổn định.

Ngày 12-1-2001 Công ty Minh Tiến có đơn khởi kiện đối với Công ty khoáng sản gửi tới Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với yêu cầu buộc Công ty khoáng sản phải thực hiện hợp đồng kinh tế đã ký.

Tại bản án kinh tế sơ thẩm số 01/KTST ngày 25-7-2001 Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã quyết định:

- Chấp nhận đơn khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn Minh Tiến.

- Hợp đồng kinh tế số 02/HĐKT/98 ngày 27-1-1999 vẫn còn hiệu lực, các bên phải nghiêm chỉnh thi hành.

- Công ty Minh Tiến được tiếp tục thực hiện hợp đồng kinh tế
số 02/HĐKT/98 thông qua các công việc cụ thể như:

Chi trả tiền đền bù giải toả đã được phê duyệt; Đầu tư vốn và cơ sở vật chất mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị để trực tiếp khai thác mỏ và kinh doanh sản phẩm đá Puzzolan tại mỏ Núi Thơm, tỷ lệ phân chia sản phẩm theo nội dung hợp đồng.

- Giành cho Công ty Minh Tiến được quyền khởi kiện vụ án khác về thiệt hại vật chất do không khai thác kinh doanh sản phẩm từ tháng 8-2000 cho
đến nay.

- Công ty khoáng sản phải nộp án phí kinh tế sơ thẩm 500.000 đồng.

Ngày 01-8-2001 Công ty khoáng sản có đơn kháng cáo toàn bộ nội dung bản án kinh tế sơ thẩm.

Tại bản án kinh tế phúc thẩm số 44/PTKT ngày 27-9-2001 Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Y án
sơ thẩm.

- Sau khi vụ án được xét xử phúc thẩm, Công ty khoáng sản có đơn khiếu nại, đề nghị xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại Kháng nghị số 05/2002/TK-KT ngày 5-6-2002 đối với bản án kinh tế phúc thẩm số 44/PTKT ngày 27-9-2001 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, Chánh án Toà án nhân dân tối cao nhận định: hợp đồng kinh tế số 02/HĐKT/98 ngày 27-01-1999 giữa Công ty khoáng sản tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Công ty Minh Tiến là hợp đồng hợp pháp. Trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế giữa các bên đã xảy ra tranh chấp, Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm quyết định Công ty Minh Tiến được tiếp tục thực hiện hợp đồng thông qua các công việc cụ thể như: Chi trả tiền đền bù, đầu tư vốn và cơ sở vật chất mua sắm lắp đặt máy móc, thiết bị để trực tiếp khai thác mỏ và kinh doanh sản phẩm đá là không phù hợp với thực tế khách quan, bởi lẽ những công việc này Công ty khoáng sản đã thực hiện. Đáng lẽ ra, trong trường hợp cụ thể này Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm cần yêu cầu Công ty Minh Tiến làm rõ nội dung đơn kiện; nếu Công ty Minh Tiến chỉ yêu cầu phải thực hiện hợp đồng kinh tế thì yêu cầu này không thuộc thẩm quyền của Toà án. Nếu Công ty Minh Tiến yêu cầu Toà án buộc Công ty khoáng sản phải bồi thường thiệt hại hoặc phải phạt vì đã đơn phương đình chỉ hợp đồng trái pháp luật thì phải bị xử lý theo quy định của pháp luật; trong trường hợp này cần hướng dẫn Công ty Minh Tiến phải có các yêu cầu cụ thể, cung cấp chứng cứ cho việc bảo vệ các yêu cầu của mình và trên cơ sở đó Toà án mới giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì vấn đề nêu trên chưa được làm rõ, song Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm vẫn xét xử; do đó, đã ra quyết định không phù hợp với thực tế khách quan. Đề nghị Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm huỷ bản án sơ thẩm và phúc thẩm nêu trên. Giao hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.

Tại Kết luận số 19/KL-AKT ngày 6-8-2002 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và đề nghị Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm huỷ bản án kinh tế sơ thẩm và phúc thẩm về vụ án này. Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 12/UBTP-KT ngày 16-9-2002 Uỷ ban thẩm phán-Toà án nhân dân tối cao đã quyết định huỷ bản án số 01/KTST
ngày 24-7-2001 của Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và bản án số 44/KTPT ngày 27-9-2001 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh. Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giải quyết sơ thẩm lại theo thủ tục chung.

Quá trình giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (sơ thẩm lần 2).

Yêu cầu cụ thể của nguyên đơn và bị đơn như sau:

* Phía Công ty Minh Tiến cho rằng: Công ty khoáng sản Vinaconex đã vi phạm cam kết trong hợp đồng vì đã đơn phương chấm dứt Hợp đồng, nay yêu cầu Công ty khoáng sản Vinaconex phải bồi thường thiệt hại và chịu phạt vi phạm Hợp đồng. Cụ thể:

Đòi bồi thường thiệt hại gồm:

- Đầu tư thăm dò và xin giấy phép khai thác: 112.805.000đ

- Chi phí đo vẽ bản đồ 1/2000 : 8.525.143đ

- Chi phí đo vẽ bản đồ 1/1000 : 18.167.298đ

- Chi phí thiết kế mỏ : 54.545.455đ

- Chi phí đo, đếm cây: : 35.750.000đ

Tổng cộng đòi bồi thường thiệt hại là: : 230.492.896đ

Đòi phạt vi phạm hợp đồng kinh tế (theo thiết kế kỹ thuật mỏ được phê duyệt khai thác trong 20 năm) cách tính như sau:

- Trữ lượng quặng đợt I là: 6.000.000 tấn (tính theo Dự toán thiết kế kỹ thuật mỏ trong 20 năm), đơn giá 26.000đ/tấn (đây là giá bán theo hợp đồng kinh tế giữa Công ty khoáng sản đã ký với Công ty Sao Mai ngày 08-01-1997), thành tiền là: 156.000.000.000đ, trừ thuế tài nguyên là 61.818.000.000đ, doanh thu còn lại là: 94.182.000.000đ. Theo hợp đồng kinh tế, phần Công ty Minh Tiến được hưởng là 86% doanh thu = 80.996.520.000đ.

Yêu cầu phạt Công ty khoáng sản 12% phần hợp đồng kinh tế bị vi phạm là: 80.996.520.000đ 12% = 9.719.582.400đ.

Tổng cộng cả hai khoản đòi bồi thường thiệt hại và vi phạm hợp đồng kinh tế là: 9.950.375.296 đồng.

* Phía Công ty khoáng sản cho rằng:

Theo quy định của luật khoáng sản thì trong thời hạn 6 tháng, kể từ khi có giấy phép khai thác mỏ, phải triển khai các bước cần thiết để đưa vào khai thác. Nhưng Công ty Minh Tiến không thực hiện cam kết trong hợp đồng mà cố tình trì hoãn, không kịp thời chuyển tiền để chi phí xin giấy phép khai thác, mà phải gần 3 năm sau Công ty Minh Tiến mới chuyển tiền chi phí xin giấy phép cho Công ty khoáng sản. Khi có Quyết định đền bù thì Công ty Minh Tiến cố tình kéo dài không thực hiện, còn liên tục gửi đơn và kích động các đối tác khác của Công ty khoáng sản gửi đơn khiếu nại Công ty khoáng sản đến các Ban ngành chức năng của tỉnh và Trung ương, đòi cấp lại giấy phép khai thác mỏ cho Công ty Minh Tiến, với một đối tác như vậy và phải đảm bảo việc khai thác, sản xuất kịp thời để cung cấp sản phẩm cho các hợp đồng kinh tế bán sản phẩm của Công ty, nên Công ty khoáng sản đã phải tự bỏ tiền ra 1.911.401.034 đồng đền bù cho dân theo Quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Đồng thời buộc phải thông báo chấm dứt hợp đồng kinh tế đã ký với Công ty Minh Tiến.

Công ty khoáng sản chỉ chấp nhận trả lại số tiền của Công ty Minh Tiến đã đầu tư theo biên bản đối chiếu giữa hai bên vào ngày 15-3-2000 là: 121.330.143đ nhưng Công ty Minh Tiến đã vi phạm hợp đồng kinh tế nên yêu cầu Công ty Minh Tiến phải bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng như sau:

+ Đòi bồi thường thiệt hại gồm:

- Thiệt hại về kinh tế và ngân sách Nhà nước: 40.000đ/tấn 300.000tấn/năm 14% 2 năm = 3.360.000.000đ

- Chi phí khắc phục hậu quả: 1.026.227.163đ

- Thiệt hại về uy tín thương mại: 10.000.000.000đ

+ Đòi phạt vi phạm hợp đồng = 12% theo cách tính sau:

40.000đ/tấn 300.0000tấn/năm 20 năm 14% doanh thu 12% = 4.032.000.000đ.

Tổng cộng các khoản là: 18.418.227.163đ.

Tại bản án kinh tế sơ thẩm (lần 2) số 04/KTST ngày 30-10-2003, Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã quyết định:

- Chấp nhận một phần yêu cầu của Công ty Minh Tiến, buộc Công ty khoáng sản phải trả cho Công ty Minh Tiến các khoản sau:

- Bồi thường thiệt hại: 228.055.896đ

- Phạt vi phạm hợp đồng kinh tế (phạt theo tỷ lệ phần trăm Công ty Minh Tiến được hưởng 86% doanh thu của hợp đồng): 2.429.895.600đ

Tổng cộng hai khoản là: 2.657.951.496đ

Ngày 04-11-2003, Công ty Minh Tiến kháng cáo yêu cầu phạt Công ty khoáng sản 12% phần hợp đồng kinh tế bị vi phạm.

Ngày 07-11-2003 Công ty khoáng sản có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại bản án kinh tế phúc thẩm số 13/KTPT ngày 15-4-2004 Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm số 04/KTST ngày 30-10-2003 của Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với lý do chưa điều tra, thu thập đầy đủ chứng cứ để xác định giá trị hợp đồng kinh tế, trên cơ sở đó tính toán mức tiền phạt đối với Công ty khoáng sản Vinaconex. Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm lại.

Quá trình giải quyết sơ thẩm lần thứ 3:

Tại bản án kinh tế sơ thẩm số 02/KTST ngày 27-12-2004 Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã quyết định:

- Chấm dứt hợp đồng kinh tế số 10B ngày 26-6-1997 và hợp đồng kinh tế số 02/HĐKT ngày 27-01-1999 ký giữa Công ty khoáng sản với Công ty Minh Tiến.

- Chấp nhận một phần yêu cầu của Công ty Minh Tiến, buộc Công ty khoáng sản trả cho Công ty Minh Tiến số tiền: 2.928.522.896đ theo cách tính như sau:

- Tổng giá trị hợp đồng kinh tế số 02/HĐKT là (trữ lượng đơn giá) 6.000.000 tấn 27.500đ = 165.000.000.000đ.

- Trừ 4% thuế tài nguyên: 6.600.000.000đ, giá trị hợp đồng còn: 158.400.000.000đ.

- Phần giá trị hợp đồng của Công ty Minh Tiến theo sự phân chia được hưởng 86% doanh thu: 158.400.000.000đ 86% = 136.224.000.000đ.

- Phạt vi phạm hợp đồng 2% đối với Công ty khoáng sản là: 136.224.000.000đ 2% = 2.724.480.000đ.

Tổng cộng tiền bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng là: 204.042.896đ + 2.724.480.000đ = 2.928.522.896đ.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04-01-2005 Công ty Minh Tiến và Công ty khoáng sản đều có đơn kháng cáo.

Tại bản án kinh tế phúc thẩm số 44/KTPT ngày 09-6-2005 Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

- Chấm dứt hợp đồng kinh tế số 10B ngày 26-6-1997 và hợp đồng kinh tế số 02 ngày 27-01-1999 ký giữa Công ty khoáng sản với Công ty Minh Tiến.

- Chấp nhận một phần yêu cầu của Công ty Minh Tiến, nâng mức phạt vi phạm hợp đồng lên 3%; buộc Công ty khoáng sản trả cho Công ty Minh Tiến số tiền: 4.290.762.896 đồng.

Sau khi vụ án được xét xử phúc thẩm, Công ty khoáng sản Vinaconex có nhiều đơn khiếu nại, đề nghị xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại Kháng nghị số 11/QĐ/KNGĐT-V12 ngày 25-11-2005 đối với bản án kinh tế phúc thẩm số 44/KTPT ngày 9-6-2005 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhận định: Sau khi hai bên ký kết hợp đồng nguyên tắc số 10B ngày 26-6-1997 và hợp đồng kinh tế số 02/HĐKT ngày 27-01-1999, do Công ty Minh Tiến đã chậm trễ không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng là phải kịp thời chuyển tiền để chi phí cho việc thăm dò, xin giấy phép khai thác do Công ty khoáng sản đứng tên pháp nhân. Tại hợp đồng nguyên tắc số 10B đã quy định rõ trách nhiệm của Công ty Minh Tiến về việc chi phí cho các khoản nêu trên. Ngày 20-6-1998, Công ty khoáng sản được cấp giấy phép khai thác mỏ thì đến ngày 10-9-1998, Công ty Minh Tiến mới chuyển tiền đo đạc bản đồ địa chính và ngày 13-3-2000 Công ty Minh Tiến mới chuyển các khoản chi phí để xin giấy phép thăm dò, lập báo cáo thăm dò, báo cáo môi trường, dự án đầu tư và xin phép khai thác.

Như vậy, Công ty Minh Tiến đã có những vi phạm hợp đồng nhưng Công ty khoáng sản vẫn hợp tác và nhận tiền do Công ty Minh Tiến giao và hai bên tiếp tục duy trì hợp đồng.

Ngày 23-12-1999 Uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu có quyết định số 7216/QĐ-UB phê duyệt kinh phí đền bù. Với tổng số tiền phải đền bù là: 1.911.401.043đ. Khi có quyết định phê duyệt kinh phí đền bù, Công ty khoáng sản đã có công văn yêu cầu Công ty Minh Tiến chuyển tiền để Công ty khoáng sản đền bù cho dân, nhưng Công ty Minh Tiến vẫn không thực hiện việc chuyển tiền cho Công ty khoáng sản theo hợp đồng đã ký kết giữa hai bên. Thực chất Công ty Minh Tiến không có khả năng về tài chính, cho nên cố tình kéo dài và đòi được bồi thường chia nhỏ từng giai đoạn, không chuyển tiền cho Công ty khoáng sản để đền bù cho dân theo quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Ngày 17-7-2000 Công ty khoáng sản có công văn số 99/CV gửi Uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và Uỷ ban nhân dân huyện Long Đất xin đền bù từng giai đoạn. Uỷ ban nhân dân huyện Long Đất có công văn số 433/CV không đồng ý đền bù từng giai đoạn mà yêu cầu phải đền bù theo đúng Quyết định số 7216/QĐ-UB của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và phải xong trước ngày 20-8-2000.

Theo quy định của Điều 39 Luật khoáng sản công bố ngày 3-4-1996: Giấy phép khai thác khoáng sản bị thu hồi trong các trường hợp sau:

“1. Sau 12 tháng kể từ ngày giấy phép có hiệu lực, tổ chức, cá nhân được phép khai thác khoáng sản chưa bắt đầu việc xây dựng cơ bản mỏ mà không có lý do chính đáng...

3. Tổ chức, cá nhân được phép khai thác khoáng sản vi phạm một trong các quy định tại Điều 33 của Luật này mà không khắc phục trong thời hạn do Chính phủ quy định kể từ ngày cơ quan quản lý Nhà nước về khoáng sản đã có văn bản thông báo”.

Điều 33 Luật khoáng sản quy định: nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được phép khai thác khoáng sản như sau:

“Tổ chức cá nhân được phép khai thác khoáng sản có các nghĩa vụ sau đây:...

6. Thực hiện các nghĩa vụ về bảo đảm quyền lợi của nhân dân địa phương nơi có khoáng sản được khai thác theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của Luật này;

7. Bồi thường thiệt hại do hoạt động khai thác khoáng sản gây ra...”

Từ những lý do trên, Công ty khoáng sản đã phải tự bỏ tiền ra để thực hiện việc đền bù xong, khi biết Công ty khoáng sản đang thực hiện việc đền bù, Công ty Minh Tiến có công văn số 13/CV ngày 28-7-2000 yêu cầu Công ty khoáng sản ngừng ngay việc làm đơn phương nói trên.

Về phía Công ty Minh Tiến trong suốt khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 5-2000 đã có nhiều văn bản gửi xin ý kiến quân sự về mặt quốc phòng đối với khu vực mỏ Núi Thơm, đứng tên cùng 6 Doanh nghiệp khác kiến nghị với các Ban ngành chức năng trong tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cho rằng hợp đồng kinh tế đã ký với Công ty khoáng sản trong việc hợp tác khai thác mỏ là bất công và đề nghị xem xét cấp lại giấy phép khai thác mỏ cho Công ty Minh Tiến, rõ ràng Công ty Minh Tiến đã thể hiện không có tinh thần hợp tác với Công ty khoáng sản, không khắc phục trong giai đoạn khó khăn ban đầu. Từ những việc làm trên đã thể hiện Công ty Minh Tiến không thực hiện hợp đồng đã ký.

Như vậy, Công ty Minh Tiến đã liên tiếp và cố tình vi phạm hợp đồng kinh tế. Cụ thể vi phạm mục 1, 2, Điều 3 hợp đồng kinh tế số 10B ngày 26-6-1997 và mục b Điều IV của hợp đồng kinh tế số 02 ký ngày 27-01-1999.

Do Công ty Minh Tiến có những vi phạm các điều khoản chủ yếu của 02 hợp đồng kinh tế trên, nên ngày 07-8-2000 Công ty khoáng sản Vinaconex có văn bản số 121/CV-KS thông báo chấm dứt hợp đồng số 10B/HĐKT ngày 26-6-1997 và hợp đồng kinh tế số 02/HĐKT/1998 ngày 27-01-1999 là có cơ sở.

Tuy nhiên, sau khi Uỷ ban nhân dân huyện Long Đất có văn bản
số 433/UB ngày 20-7-2000, không nhất trí đền bù từng giai đoạn, mà phải đền bù xong trước ngày 20-8-2000. Lẽ ra khi có văn bản này Công ty khoáng sản phải thông báo cho Công ty Minh Tiến biết để Công ty Minh Tiến thực hiện nghĩa vụ của mình. Nếu Công ty Minh Tiến vẫn cố tình không thực hiện việc chuyển tiền đền bù cho Công ty khoáng sản để thực hiện theo Quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu thì Công ty khoáng sản tuyên bố chấm dứt hợp đồng với Công ty Minh Tiến là phù hợp. Nhưng Công ty khoáng sản không thông báo cho Công ty Minh Tiến biết nội dung đó mà tự thực hiện việc đền bù (phần việc này của Công ty Minh Tiến) là có phần thiếu sót của Công ty khoáng sản. Hợp đồng kinh tế ký kết giữa hai bên mới ở giai đoạn đền bù khu vực mỏ, chưa đi vào khai thác, chưa có doanh thu và không có thiệt hại thực tế về vật chất nên không có cơ sở phạt vi phạm hợp đồng đối với Công ty khoáng sản. Nhưng Công ty khoáng sản cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường cho Công ty khoáng sản Minh Tiến các khoản tiền đã đầu tư:

- Chi phí đo vẽ bản đồ mỏ tỷ lệ 1/100: 18.167.298đ,

- Chi phí cho thiết kế mỏ số tiền: 54.545.455đ,

- Chi để đền bù giải toả: 10.000.000đ (BL 10; 71; 110; 180) và số tiền 121.330.143đ Công ty cổ phần khoáng sản Minh Tiến đã đầu tư theo biên bản đối chiếu giữa hai bên ngày 15-3-2000.

Tổng cộng các khoản là: 204.052.887đ.

Tại bản án kinh tế sơ thẩm số 02/KTST ngày 27-12-2004 của Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu chấp nhận một phần yêu cầu của Công ty Minh Tiến, phạt 2% giá trị hợp đồng kinh tế; Buộc Công ty khoáng sản trả cho Công ty Minh Tiến số tiền 2.928.522.000 đồng và tại bản án kinh tế phúc thẩm
số 44/KTPT ngày 9-6-2005 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu của Công ty Minh Tiến, nâng mức phạt vi phạm hợp đồng kinh tế lên 3%. Buộc Công ty khoáng sản trả cho Công ty Minh Tiến số tiền 4.290.762.896đ là không có căn cứ. Vì Công ty khoáng sản cũng có một phần lỗi, nhưng lỗi này đều bắt nguồn từ lỗi của Công ty Minh Tiến.

Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm tính giá trị hợp đồng bị vi phạm lại căn cứ vào dự toán 20 năm khai thác để phạt Công ty khoáng sản là không có căn cứ. Vì trong quá trình khai thác mọi rủi ro có thể phát sinh như: không đạt được trữ lượng như dự toán, giá cả biến động hoặc có thể bị lỗ. Đây là hợp đồng kinh doanh hai bên bỏ tiền, vật tư ra để cùng nhau đầu tư cho tới lúc khai thác ra quặng (sản phẩm).

Cụ thể là: Công ty Minh Tiến mới bỏ ra 204.052.887 đồng để làm các thủ tục xin cấp giấy phép; Công ty khoáng sản bỏ ra: 1.911.401.034 đồng để giải phóng mặt bằng. Trong trường hợp này nếu có xác định giá trị hợp đồng để phạt thì phải xác định giá trị đầu tư mới đúng.

- Đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm theo hướng: huỷ bản án số 02/KTST ngày 27-12-2004 của Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và bản án kinh tế phúc thẩm số 44/KTPT ngày 09-6-2005 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, giao hồ sơ cho Toà án cấp sơ thẩm xét xử lại theo hướng phân tích trên.

Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị nêu trên.

XÉT THẤY:

Hợp đồng kinh tế số 02/HĐKT.98 ngày 27-01-1999 giữa Công ty Khoáng sản và Công ty Minh Tiến là hợp đồng hợp tác kinh doanh, lẽ ra hai bên phải hợp tác chặt chẽ với nhau để đi vào đầu tư, sản xuất ổn định, nhưng Công ty Minh Tiến lại có nhiều đơn khiếu nại gửi nhiều nơi cho rằng hợp đồng với Công ty khoáng sản là bất bình đẳng, yêu cầu huỷ bỏ giấy phép khai thác đã cấp cho Công ty Khoáng sản, đề nghị được xét lại cấp giấy phép khai thác mỏ cho mình. Như vậy, về mặt chủ quan Công ty Minh Tiến đã thể hiện ý chí của mình là không thực hiện hợp đồng với Công ty Khoáng sản.

Ngày 23-12-1999 Uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu có quyết định số 7216/QĐ-UB phê duyệt kinh phí đền bù cho các hộ dân bị thu hồi đất là 1.911.401.043 đồng; ngày 3-4-2000 Công ty Khoáng sản có công văn số 35/CVKS gửi Công ty Minh Tiến yêu cầu chuyển vào tài khoản của Công ty Khoáng sản toàn bộ số tiền đền bù trước ngày 10-4-2000 để Công ty Khoáng sản thực hiện việc đền bù; nhưng Công ty Minh Tiến không thực hiện; ngược lại Công ty Minh Tiến có nhiều đơn khiếu nại và tố cáo Công ty Khoáng sản; đề nghị thanh tra tài chính đối với Công ty Khoáng sản. Điều đó cho thấy mâu thuẫn giữa 2 bên rất gay gắt, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã tổ chức nhiều cuộc họp với các bên nhưng không giải quyết được.

Ngày 20-7-2000 Uỷ ban nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu có công văn số 433/UB-VP yêu cầu Công ty Khoáng sản phải chi trả tiền đền bù giải toả và mở đường vào mỏ trước ngày 20-8-2000; lẽ ra khi nhận được công văn này Công ty Khoáng sản phải có văn bản yêu cầu Công ty Minh Tiến có biện pháp giải quyết hoặc thanh lý chấm dứt hợp đồng, nhưng Công ty Khoáng sản không thông báo cho Công ty Minh Tiến, mà tự mình thực hiện việc đền bù cho dân để giải phóng mặt bằng; đồng thời ngày 7-8-2000 Công ty Khoáng sản có công văn số 121/CV-KS gửi Công ty Minh Tiến thông báo chấm dứt hợp đồng và yêu cầu xử lý các vi phạm nghiêm trọng hợp đồng kinh tế do Công ty Minh Tiến gây ra; Như vậy là Công ty Khoáng sản cũng có lỗi. Nhưng lỗi của Công ty Khoáng sản được bắt nguồn từ lỗi mà Công ty Minh Tiến gây ra.

Với tình hình như nêu trên thì thấy rằng cả 2 bên đều có lỗi, nhưng lỗi của Công ty Minh Tiến nhiều hơn.

Tại khoản 4 Điều 40 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế quy định: “bên vi phạm hợp đồng kinh tế được xét giảm hoặc miễn hoàn toàn trách nhiệm tài sản trong trường hợp việc vi phạm hợp đồng kinh tế của một bên là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự vi phạm hợp đồng của bên kia”, vì vậy, cần phải phạt Công ty khoáng sản 3% giá trị hợp đồng là phù hợp.

Về xác định giá trị hợp đồng, đây là hợp đồng hợp tác kinh doanh, theo đó Công ty Minh Tiến phải đóng góp toàn bộ tiền và trang thiết bị máy móc để đầu tư vào xây dựng mỏ trước khi đi vào khai thác ra sản phẩm là đá Puzzolan, nhưng mới triển khai đến công đoạn đền bù giải toả mặt bằng thì đã xảy ra tranh chấp, phần đầu tư xây dựng cơ bản chưa xong, nhưng Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm lại xác định giá trị của hợp đồng là số sản phẩm dự kiến sẽ sản xuất ra trong 20 năm là sai lầm nghiêm trọng.

Trong trường hợp này xác định giá trị của hợp đồng để làm căn cứ phạt vi phạm cần phải tính toàn bộ chi phí để xây dựng xong mỏ đá trước khi đi vào khai thác; do trong hợp đồng các bên không xác định rõ giá trị của hợp đồng. Vì vậy, cần phải căn cứ vào quyết định số 1040/QĐ-UB ngày 7-5-1998 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu về việc phê duyệt dự án đầu tư, khai thác mỏ Puzzolan tại núi Thơm, huyện Long Đất với tổng mức vốn đầu tư là 8.329.000.000 đồng là giá trị của hợp đồng.

Bởi các lẽ trên và căn cứ vào khoản 3 Điều 291; khoản 3 Điều 297 và khoản 2 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Huỷ bản án kinh tế phúc thẩm số 44/KTPT ngày 9-6-2005 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, giao hồ sơ vụ án cho Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

____________________________________________

- Lý do huỷ bản án phúc thẩm:

Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm đã xác định sai giá trị của hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa các bên dẫn đến quyết định không chính xác về mức tiền phạt vi phạm hợp đồng.

- Nguyên nhân dẫn đến việc huỷ bản án phúc thẩm:

Thiếu sót trong việc xem xét và đánh giá chứng cứ.

_______________________________________________________________________________________________________________________

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 04/KDTM-GĐT
NGÀY 05-4-2006 VỀ VỤ ÁN “TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HOÁ”

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

...

Ngày 05 tháng 4 năm 2006 tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao, đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án kinh doanh, thương mại về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá giữa:

- Nguyên đơn: Công ty Tiên Sơn - Thanh Hoá; có trụ sở tại số 9, khối phố 6, phường Bắc Bỉm Sơn, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

- Bị đơn: Công ty TNHH xuất nhập khẩu Châu Tuấn; có trụ sở tại khối 8A, thị trấn Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

NHẬN THẤY:

Ngày 21-3-2002, Công ty TNHH xuất nhập khẩu Châu Tuấn (sau đây gọi tắt là bên A) do bà Bạch Thị Hường, chức vụ giám đốc, làm đại diện và Công ty Tiên Sơn - Thanh Hoá (sau đây gọi tắt là bên B) do ông Trịnh Xuân Lâm chức vụ giám đốc làm đại diện đã cùng nhau ký kết hợp đồng số 01/2002 có nội dung chính như sau:

Bên A bán cho bên B 1.500 tấn mật rỉ đường NATRI vụ mùa năm 2001-2002 với giá 730.000đ/tấn.

Giao hàng tại nhà máy đường Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.

Quy cách phẩm chất:

- Độ đông đặc (Brix) 80%;

- Hàm lượng đường 48%;

- Có mùi thơm, màu sắc tự nhiên.

- Thời gian giao hàng từ ngày 8 đến ngày 20-4-2002.

- Tổng giá trị của hợp đồng là 1.095.000.000đ (bao gồm cả thuế VAT).

- Phương thức thanh toán: bên B trả cho bên A 100% tiền, trước khi giao nhận hàng.

Ngoài ra, hợp đồng còn quy định nghĩa vụ và trách nhiệm của từng bên là bên A chịu xếp hàng lên phương tiện cho bên B. Hai bên cùng nhau kiểm tra xác nhận số lượng và chất lượng hàng tại kho nhà máy. Trách nhiệm của bên A sẽ chấm dứt khi hàng ra khỏi kho của bên A... Bên A sẽ cấp cho bên B mật rỉ đường theo số lượng và chất lượng đã thoả thuận và xuất hoá đơn VAT tại mỗi đợt giao hàng.

Số hàng trên bên A có được là do mua lại của Công ty TNHH Tân Hồng - TP Hà Nội theo Hợp đồng số 01/2002 ngày 21-3-2002; Ngày 26-4-2002 Công ty TNHH Tân Hồng có công văn số 41/CV gửi Công ty mía đường Nghệ An đề nghị giao 1.500 tấn mật rỉ đường vào ngày 27-4-2002. Từ ngày 27 đến 29-4-2002 bên A đã giao cho bên B 998,1 tấn mật rỉ đường.

Phía bên B đã trả đủ số tiền 1.500 tấn là 1.080.000.000 đồng theo uỷ nhiệm chi số 2/3 ngày 5-3-2002. Ngày 4-6-2002 bên A đã xuất hoá đơn VAT cho bên B.

Sau khi nhận hàng tại kho, bên B cho hàng vào các xe Tẹc có kẹp chì chuyển đi cảng Lệ Môn, Thanh Hoá để giao cho Công ty Vân Anh (bên B đã ký Hợp đồng bán lô hàng 998,1 tấn này cho Công ty Vân Anh), và Công ty Vân Anh lại ký Hợp đồng bán ngay cho Công ty xuất nhập khẩu PROSIMEX, Công ty PROSIMEX bán tiếp lô hàng này cho khách hàng Trung Quốc.

Khi lô hàng đến Quảng Ninh, tại đây khách hàng Trung Quốc và PROSIMEX đã tiến hành giám định để làm cơ sở hai bên giao hàng cho nhau thì có kết quả:

- Phía PROSIMEX giám định ngày 6-5-2002 độ đường 46,5%.

- Phía khách hàng Trung Quốc giám định ngày 7-5-2002 độ đường 45,7%.

Do không đảm bảo chất lượng theo hợp đồng, phía khách hàng Trung Quốc từ chối nhận mua lô hàng trên, nên ngày 9-5-2002 Công ty Vân Anh - Thanh Hoá cùng PROSIMEX yêu cầu VINACONTROL giám định lại chất lượng; Tại chứng thư giám định về chất lượng số 0373 ngày 15-3-2002 của VINACONTROL có kết quả: độ đường 43,44%; độ đông đặc 78%; thấp hơn so với cam kết trong hợp đồng là hàm lượng đường 48%, độ đông đặc 80%.

Do không thống nhất được hướng giải quyết nên ngày 16-5-2002 Công ty Vân Anh cùng PROSIMEX, Công ty Tiên Sơn và bà Bạch Thị Mận (đại diện bên A) đã mời VINACONTROL giám định lại, lấy mẫu mật rỉ đường tại kho của công ty liên doanh mía đường Nghệ An (là nơi xuất xứ lô hàng) thì cũng có kết quả giám định:

- Độ đường toàn phần: 43,6%.

- Độ đông đặc (BRIX): 78,3%.

Do lô hàng mật rỉ đường không đảm bảo chất lượng, khách hàng Trung Quốc từ chối nhận hàng, nên buộc Công ty PROSIMEX - chi nhánh Quảng Ninh phải bán hạ giá gây thiệt hại, nên đã kiện Công ty Vân Anh - Thanh Hoá và đã được Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá và Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử buộc Công ty Vân Anh - Thanh Hoá phải bồi thường cho Công ty PROSIMEX số tiền thiệt hại là 642.359.000đ (kể cả án phí sơ thẩm và phúc thẩm).

Sau khi có bản án phúc thẩm trên, Công ty Vân Anh - Thanh Hoá khởi kiện tiếp Công ty Tiên Sơn - Thanh Hoá; đã được Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá và Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao xét xử buộc Công ty Tiên Sơn phải bồi thường cho Công ty Vân Anh - Thanh Hoá số tiền là 643.006.000 đồng và phải nộp án phí là 21.060.000 đồng.

Sau khi có bản án kinh tế phúc thẩm số 101/KTPT ngày 23-7-2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội, ngày 25-8-2004 Công ty Tiên Sơn - Thanh Hoá có đơn khởi kiện đối với Công ty Châu Tuấn tại Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh về lô hàng 998,1 tấn mật rỉ không đảm bảo chất lượng mà Công ty Tiên Sơn phải bồi thường cho Công ty Vân Anh, nay yêu cầu Toà án buộc Công ty TNHH Châu Tuấn phải bồi thường số tiền 664.066.000 đồng. Ngày 21-9-2004 Công ty Tiên Sơn có đơn kiện bổ sung về số tiền bị thiệt hại do buộc phải nhờ Công ty Châu Tuấn bán số hàng còn lại 501,9 tấn ở kho của Công ty liên doanh mía đường Nghệ An với giá 400.000 đồng/1tấn, nên bị thiệt hại là 165.627.000 đồng.

Tổng cộng hai khoản mà Công ty Tiên Sơn yêu cầu Công ty Châu Tuấn phải bồi thường là 829.693.000 đồng.

Tại bản án kinh tế sơ thẩm số 01/KTST ngày 16-11-2004, Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của Công ty Tiên Sơn, Thanh Hoá.

2. Buộc Công ty TNHH xuất nhập khẩu Châu Tuấn - Hà Tĩnh phải bồi thường cho Công ty Tiên Sơn - Thanh Hoá các khoản như sau:

- Tiền lô hàng mật rỉ đường 998,1 tấn Công ty Châu Tuấn giao cho Công ty Tiên Sơn không đúng chất lượng theo hợp đồng nên Công ty Tiên Sơn phải bồi thường cho Vân Anh - Thanh Hoá 664.066.000 đồng.

- Tiền do lô hàng 501,9 tấn tại kho Công ty liên doanh mía đường Nghệ An kém phẩm chất Công ty Tiên Sơn phải bán lỗ 165.627.000 đồng.

Tổng cộng 2 khoản là 829.693.000 đồng.

Ngày 19-11-2004, Công ty Châu Tuấn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại bản án kinh tế phúc thẩm số 141/2005/KTPT ngày 5-7-2005 Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã quyết định:

Bác đơn kháng cáo của Công ty TNHH xuất nhập khẩu Châu Tuấn - Hà Tĩnh. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi vụ án được xét xử phúc thẩm, Công ty TNHH Châu Tuấn có nhiều đơn khiếu nại đề nghị xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại Kháng nghị số 10/KN-AKT ngày 31-10-2005 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhận định:

1. Về lô hàng 998,1 tấn:

Tại hợp đồng số 01/2002 giữa Công ty Châu Tuấn và Công ty Tiên Sơn ghi rõ: chất lượng theo sự kiểm tra của bên A và được bên B đồng ý. Việc giao nhận hàng từ ngày 08-4-2002 đến ngày 20-4-2002 nếu bên B không thực hiện đúng thời gian trên sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Đồng thời tại điều 3 hợp đồng ghi rõ: Trách nhiệm của bên A sẽ chấm dứt khi hàng hoá ra khỏi kho bên A. Nhưng đến ngày 27 và ngày 29-4-2002 bên B mới nhận hàng.

Như vậy: bên B đã không thực hiện đúng thời gian giao nhận hàng như đã thoả thuận trong hợp đồng. Hàng lại được mua bán lòng vòng qua nhiều đơn vị nên bên B phải chịu trách nhiệm nếu chất lượng hàng bị giảm. Đồng thời hàng hoá đã được bên B nhận trực tiếp từ kho nhà máy, ký nhận vào hoá đơn giá trị gia tăng của Công ty Tân Hồng, nhận phiếu kiểm nghiệm hàng hoá của nhà máy đường. Khi hàng ra khỏi kho thì bên A hết trách nhiệm. Vì vậy Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm buộc bên A phải bồi thường cho bên B toàn bộ số tiền 664.066.000 đồng là không thoả đáng.

Lô hàng trên được mua bán qua nhiều khâu trung gian. Thời gian bán hàng kéo dài nên việc bảo quản cũng như chất lượng hàng bị giảm là điều không thể tránh khỏi. Vì vậy quy toàn bộ trách nhiệm cho Công ty Châu Tuấn phải bồi thường cho Công ty Tiên Sơn là thiếu căn cứ.

2. Về lô hàng 501,9 tấn:

Lô hàng này Công ty Tiên Sơn có nhờ Công ty Châu Tuấn bán với giá 400.000đ/tấn và chấp nhận chịu thiệt: công văn số 74 ngày 02-8-2002, số 78 ngày 12-8-2002 và số 79 ngày 19-8-2002 đã khẳng định: “chúng tôi tiếp tục nhận mật rỉ còn lại của hợp đồng số 01/2002 ngày 21-3-2002 giữa Công ty Tiên Sơn và Công ty Châu Tuấn; đồng ý để Công ty mía đường xử lý số hàng còn lại của chúng tôi là 501,5 tấn. Nhưng thực tế sau đó Công ty Tiên Sơn đã nhờ cá nhân bà Mân bán hộ trực tiếp để thu tiền mặt tại kho của nhà máy không có liên quan gì đến Công ty Châu Tuấn.

Sau khi bán hàng xong, ngày 29-10-2002 Công ty Tiên Sơn đã làm giấy biên nhận tiền với bà Mân, việc làm này của Công ty Tiên Sơn chứng tỏ số hàng này thuộc toàn quyền của họ. Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm buộc Công ty Châu Tuấn phải bồi thường cho Công ty Tiên Sơn 165.627.000 đồng là số tiền bán lỗ của lô hàng này là hoàn toàn không có căn cứ.

Đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm theo hướng huỷ bản án phúc thẩm giao cho Toà phúc thẩm xét xử lại theo thủ tục chung của pháp luật.

Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhận định về lô hàng 998,1 tấn mật rỉ đường Công ty Châu Tuấn phải bồi thường thiệt hại cho Công ty Tiên Sơn là đúng; Còn lô hàng 509,1 tấn Công ty Tiên Sơn đã đồng ý nhờ Công ty Châu Tuấn bán hộ, vì vậy số tiền bị lỗ là 165.627.000 đồng Công ty Tiên Sơn phải chịu. Đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xem xét quyết định.

XÉT THẤY:

1. Về nhận định tại Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là hợp đồng quy định giao hàng từ ngày 08-4-2002 đến ngày 20-4-2002, nhưng từ ngày 27 đến ngày 29-4-2002 bên B mới nhận hàng là thực hiện không đúng thời gian giao nhận hàng, hàng lại được mua bán lòng vòng qua nhiều khâu trung gian nên bên B phải chịu trách nhiệm về chất lượng hàng bị giảm là không có căn cứ; bởi vì, ngày 26-4-2002 Công ty Tân Hồng mới có công văn gửi Công ty liên doanh mía đường Nghệ An đăng ký 12 xe ôtô đến nhận hàng và xin nhận hàng vào 7 giờ ngày 27-4-2002 (BL153, 165); đồng thời cả Công ty Tân Hồng và Công ty Châu Tuấn cùng làm giấy uỷ quyền cho bà Bạch Thị Thanh Mân làm thủ tục giao nhận hàng cho Công ty Tiên Sơn - Thanh Hoá. Như vậy, việc giao hàng chậm so với hợp đồng 7 ngày là do bên A giao chậm, chứ không phải bên B nhận chậm.

Về nhận định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho là do mua bán lòng vòng nên chất lượng lô hàng bị giảm, thì thấy rằng:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì: nguồn gốc xuất xứ của lô hàng 1.500 tấn mật rỉ đường là của Công ty liên doanh mía đường Nghệ An Tate&Lyte; Công ty này bán cho Công ty Tân Hồng - Hà Nội theo hợp đồng ngày 26-2-2002 với đơn giá 670.000 đồng/tấn; Công ty Tân Hồng bán cho Công ty Châu Tuấn theo hợp đồng số 01 ngày 21-3-2002 với đơn giá 730.000 đồng/tấn; Công ty Châu Tuấn bán cho Công ty Tiên Sơn, Thanh Hoá theo hợp đồng số 01/2002 ngày 21-3-2002 với đơn giá 730.000 đồng/tấn. Công ty Tiên Sơn bán cho Công ty Vân Anh theo hợp đồng số 01/2002 ngày 25-2-2002 với đơn giá 830.000 đồng/tấn; Công ty Vân Anh bán cho Công ty Prosimex - Chi nhánh Quảng Ninh theo hợp đồng số 01 ngày 22-2-2002 với đơn giá 850.000 đồng/tấn và cuối cùng là Công ty Prosimex bán cho khách hàng Trung Quốc.

Như vậy, quy trình mua bán lô hàng qua 5 khâu, diễn ra trong một thời gian ngắn; Tuy nhiều đơn vị tham gia vào việc mua bán lô hàng như vậy, nhưng việc thực hiện hợp đồng chỉ diễn ra tại 3 nơi:

1) Tại Nhà máy đường Quỳ Hợp - Nghệ An được giao tay tư: Nhà máy đường giao cho Công ty Tân Hồng; Công ty này và Công ty Châu Tuấn cùng uỷ quyền cho bà Bạch Thị Thanh Mân nhận và giao ngay cho Công ty Tiên Sơn.

2) Tại Cảng Lệ Môn - Thanh Hoá; Công ty Tiên Sơn vận chuyển hàng được đựng trong xe Stec được kẹp chì từ Nghệ An về cảng Lệ Môn - Thanh Hoá và được giao tay ba: Công ty Tiên Sơn, Công ty Vân Anh giao cho Công ty Prosimex.

3) Tại cảng Vân Đồn - Quảng Ninh: Công ty Prosimex giao cho khách hàng Trung Quốc.

Việc giao nhận hàng diễn ra tại Nghệ An và Thanh Hoá là 3 ngày
từ 27-4-2002 đến ngày 29-4-2002.

Ngày 2-5-2002 tàu rời cảng Lệ Môn - Thanh Hoá, đến ngày 5-5-2002
về đến cảng Vân Đồn - Quảng Ninh.

Ngày 6-5-2002 phía khách hàng Trung Quốc đã tiến hành giám định và đưa ra kết quả giám định lô hàng không đúng chất lượng theo hợp đồng, nên đã từ chối nhận hàng.

Như vậy, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho rằng do lô hàng mua bán lòng vòng qua nhiều khâu trung gian, thời gian bán hàng kéo dài dẫn đến chất lượng lô hàng bị giảm là không chính xác. Vì thực tế có sự mua bán lòng vòng thật, nhưng thời gian giao nhận và vận chuyển hàng hoá từ Nghệ An tới Quảng Ninh không kéo dài, khoảng 10 ngày (từ ngày 27-4 đến ngày 5-5-2002); nên không phải vì vậy mà dẫn tới chất lượng lô hàng bị giảm sút. Nguyên nhân chính là bên bán hàng không nắm chắc được chất lượng thực sự của lô hàng, nên đã ký hợp đồng bán hàng với tiêu chuẩn chất lượng cao hơn với chất lượng thực của lô hàng; dẫn đến tự mình gây ra vi phạm hợp đồng. Vì qua kết quả giám định của Vinacontrol tại Quảng Ninh và ngay tại kho của Công ty liên doanh mía đường Nghệ An Tate&Lyte, là nơi xuất xứ của lô hàng đều cho kết quả là độ đông đặc và độ đường đều thấp hơn so với chất lượng mà các bên đã cam kết trong hợp đồng.

2. Tại Điều 3 của hợp đồng ghi: trách nhiệm của bên A sẽ chấm dứt khi hàng hoá ra khỏi kho của bên A; Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 60 Luật thương mại thì người bán phải giao hàng đúng số lượng, chất lượng theo thoả thuận trong hợp đồng; tại Điều 61 Luật thương mại quy định: Trước khi giao hàng người bán phải kiểm tra chất lượng hàng hoá và cung cấp giấy chứng nhận chất lượng cho người mua và khoản 3 Điều 62 Luật thương mại đã quy định: “Trong trường hợp người mua hoặc đại diện người mua tham dự việc kiểm tra chất lượng hàng hoá, người bán vẫn phải chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hoá”. Như vậy, là người bán phải chịu đến cùng về chất lượng hàng hoá mà mình đã bán ra. Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm đã quyết định buộc Công ty Châu Tuấn phải bồi thường thiệt hại về giao hàng không đúng chất lượng là đúng (bao gồm cả lô hàng đã giao cho Công ty Vân Anh và số hàng còn tồn đọng chưa tiêu thụ được phải nhờ chính bà Bạch Thị Thanh Mân bán hạ giá).

3. Về lô hàng 501,9 tấn mật rỉ đường bên B nhờ bên A bán hộ với giá 400.000 đồng/tấn; thì thấy rằng: số hàng này nằm trong lô hàng 1500 tấn mà bên B mua của bên A và đã trả đủ tiền cho bên A; Sau khi bên B nhận 998,1 tấn, bị khách hàng khiếu nại chất lượng không đúng theo hợp đồng, bên B đã có nhiều công văn gửi bên A khiếu nại về chất lượng hàng hoá và đề nghị bên A cho biết phương hướng giải quyết xử lý lô hàng (công văn số 53 ngày 27-5-2002; số 57 ngày 14-6-2002; số 74 ngày 2-8-2002; số 79 ngày 19-8-2002). Mặt khác, do Công ty mía đường Nghệ An và Công ty Châu Tuấn thúc ép bên B phải giải phóng hàng, trả bồn chứa cho Công ty mía đường và đã đưa ra giá bán chỉ được 380đ-400đ/kg, bên B đã nhờ chính bên A bán số hàng còn lại giá 400đ/kg là nhằm khắc phục hậu quả do lô hàng bị kém chất lượng. Số tiền phát sinh chênh lệch là 165.627.000 đồng, Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm đã quyết định buộc bên A phải bồi thường cho bên B là đúng.

Bởi các lẽ trên và căn cứ vào khoản 3 Điều 291; khoản 1 Điều 296 và khoản 1 Điều 297 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

Giữ nguyên bản án kinh tế phúc thẩm số 141/2005/KTPT ngày 05-7-2005 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

____________________________________________

- Lý do không chấp nhận kháng nghị:

Nhận định tại kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc nguyên đơn đã thực hiện không đúng thời hạn giao nhận hàng và phải chịu trách nhiệm về việc chất lượng hàng hoá bị giảm do hàng bị mua bán lòng vòng qua nhiều khâu trung gian là không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án.

 

  • Version 6
  • Download 0
  • File Size 0.00 KB
  • File Count 1
  • Create Date 2013-05-14
  • Last Updated 2020-06-05
File
QDGDT_03-2006-KDTM-GĐT.doc

Leave a Reply