Thanh Toán Hợp Đồng Mua Bán Xe Ô Tô Trả Góp

QUYếT ĐịNH GIÁM ĐốC THẩM Số 05/2005/KDTM-GĐT

NGÀY 03-8-2005 Về Vụ ÁN “TRANH CHấP
HợP ĐồNG MUA BÁN HÀNG HOÁ”

Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

...

Ngày 03 tháng 8 năm 2005, tại trụ sở của Toà án nhân dân tối cao mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa (thanh toán hợp đồng mua bán xe ô tô trả góp) giữa:

Nguyên đơn: Công ty Liên doanh ô tô Việt Nam - Daewoo (VIDAMCO); có trụ sở tại: Xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8(CIENCO); có trụ sở tại: 18 Hồ Đắc Di, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Đức Minh- 47 tuổi; trú tại: Phòng 214-ĐN2 khu đô thị mới Định Công, thành phố Hà Nội.

Nhận thấy:

Ngày 16-6-1997 và ngày 07-01-1998, Công ty vận chuyển khách du lịch và taxi (đơn vị phụ thuộc của Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8 - viết tắt là CIENCO 8) đã ký hợp đồng, bản sửa đổi hợp đồng số VID-CIEN/970533- và bản phụ lục số 1-A với Công ty Liên doanh ô tô Việt Nam -Daewoo (viết tắt là VIDAMCO) về việc CIENCO 8 mua 15 chiếc xe ô tô của VIDAMCO.

Theo thoả thuận trong hợp đồng và phụ lục hợp đồng, tổng giá trị của hợp đồng là 249.000 USD, CIENCO 8 trả ngay 20% bằng 49.800 USD khi giao xe. Số tiền 80% còn lại (199.200 USD) sẽ thanh toán theo phương thức trả góp có lãi, chia làm 12 lần trong 3 năm, với chu kỳ 3 tháng trả một lần (từ 10-01-1998 đến 10-9-2000). Lãi suất trả góp là 9% năm (tổng số tiền lãi trả góp của 12 kỳ hạn là 30.505 USD); lãi suất phạt do trả tiền không đúng hạn là 2%/tháng.

Việc giao nhận xe và trả 20% giá trị hợp đồng khi nhận xe không có tranh chấp.

Do CIENCO 8 không thanh toán đúng các khoản nợ trả góp đến hạn, nên ngày 22-9-1998 VIDAMCO đã có đơn khởi kiện ra Toà án nhân dân thành phố Hà Nội để đòi nợ.

- Số nợ của các kỳ hạn 10-01-1999, 10-4-1999 và 10-7-1999 đã được giải quyết tại bản án kinh tế phúc thẩm số 58/KTPT ngày 10-4-2003 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội;

- Số nợ các kỳ hạn 10-10-1999, 10-01-2000 đã được giải quyết tại quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 13/KTST ngày 27-3-2000 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội;

- Số nợ của các kỳ hạn 10-4-2000, 10-7-2000 và 10-9-2000 đã được giải quyết theo quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 51/KTST ngày 29-11-2000 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội;

- Riêng số nợ của 4 kỳ hạn 10-01-1998, 10-4-1998, 10-7-1998 và 10-10-1998 tuy đã được Toà án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết tại quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 40/KTST ngày 24-11-1998, nhưng quyết định công nhận sự thoả thuận này đã bị Hội đồng xét xử giám đốc thẩm Toà kinh tế Toà án nhân dân tối cao xử huỷ tại quyết định số 05/QĐ-GĐT
ngày 17-9-1999 với lý do đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi đưa Công ty vận chuyển khách du lịch và taxi - đơn vị hạch toán phụ thuộc của CIENCO 8 vào tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn của vụ án.

Ngày 04-10-1999, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý lại vụ án này với bị đơn là CIENCO 8 và sau đó đã ra quyết định số 05/QĐ-TĐC ngày 17-11-1999 tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án.

Ngày 23-5 và ngày 09-6-2003, VIDAMCO có đơn đề nghị và ngày 27-5-2003, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội đã đưa vụ án ra tiếp tục giải quyết.

Tại bản án kinh tế sơ thẩm số 37/KTST ngày 29-8-2003, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Liên doanh ô tô Việt Nam -Daewoo về việc đòi các khoản tiền của các kỳ hạn đã quá hạn thanh toán
ngày 10-01-1998; ngày 10-4-1998; ngày 10-7-1998; và ngày 10-10-1998 theo hợp đồng số vid-cien/970533 giữa Công ty Liên doanh ô tô Việt Nam - Daewoo với Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8.

Buộc Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8 phải có trách nhiệm thanh toán các khoản tiền mua ô tô đã quá hạn trả nợ của hợp đồng VID-CIEN/970533; Cụ thể:

- Đợt ngày 10-4-1998, với tổng số tiền là: 35.953, 41 USD;

- Đợt ngày 10-7-1998, với tổng số tiền là: 34.617, 80 USD;

- Đợt ngày 10-10-1998, với tổng số tiền là: 33.309, 09, 09 USD;

Tổng cộng cả ba đợt trên, có số tiền là: 103.880,30 USD, tương đương với 1.607.755.403 VND (theo tỷ giá 15.477 đ/USD ngày 28-8-2003 của Ngân hàng nhà nước). Số tiền 103.880,30 USD được trả bằng tiền VND theo tỷ giá ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại thời điểm thanh toán.

Ghi nhận sự tự nguỵên của đại diện nguyên đơn (VIDAMCO) đồng ý rút yêu cầu đòi số tiền lãi trả chậm trả (lãi quá hạn) của đợt ngày 10-01-1998 với số tiền là 2.048,77 USD.

Ghi nhận sự thống nhất của các đương sự (nguyên đơn, bị đơn và ông Trần Minh Đức) về khoản tiền 21.900 USD trị giá chiếc xe ô tô ESFERO của ông Trần Minh Đức mua cho cá nhân sẽ được thanh toán chung trong khoản nợ của hợp đồng VID-CIEN/970533, không tách thành một vụ kiện khác. Giành quyền khởi kiện cho Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8 đối với ông Trần Đức Minh về khoản tiền trên nếu sau này có tranh chấp.

Bác các yêu cầu khác của các đương sự.

Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8 phải chịu 28.667.775 đồng tiền án phí kinh tế sơ thẩm.

Hoàn trả cho Công ty Liên doanh ô tô Việt Nam -Daewoo số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.580.000 đồng.

Ngày 06-9-2003, CIENCO 8 kháng cáo, yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xử bác đơn khởi kiện của VIDAMCO, tuyên bố vô hiệu toàn bộ hợp đồng và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Tại bản án kinh tế phúc thẩm số 52/KTPT ngày 29-4-2004, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Liên doanh ô tô Việt Nam -Daewoo về việc đòi các khoản tiền của 3 kỳ hạn đã quá hạn thanh toán
(ngày 10-4-1998; 10-7-1998; 10-10-1998) của hợp đồng VID-CIEN/970533 giữa Công ty Liên doanh ô tô Việt Nam - Daewoo với Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8.

Buộc Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8 phải có trách nhiệm thanh toán các khoản tiền mua ô tô quá hạn trả nợ của hợp đồng số VID-CIEN/970533; Cụ thể:

- Đợt ngày 10-4-1998, với tổng số tiền là: 25.189,84 USD;

- Đợt ngày 10-7-1998, với tổng số tiền là: 24.048,64 USD;

- Đợt ngày 10-10-1998, với tổng số tiền là: 22.933,80 USD;

Tổng cộng 3 đợt là 72.172,30 USD. Tính lãi 1, 9%/năm đến ngày xét xử phúc thẩm (29-4-2004) Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8 phải trả cho Công ty Liên doanh ô tô Việt Nam -Daewoo toàn bộ số tiền 78.276,14 USD được trả bằng VND theo tỷ giá ngoại hối của Ngân hàng nhà nước Việt Nam tại thời điểm thanh toán.

Sửa án phí sơ thẩm: Buộc Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8 phải chịu 28.231.283 đồng án phí kinh tế sơ thẩm và không phải chịu án phí kinh tế phúc thẩm.

Ngày 22-6-2004, Công ty Liên doanh ô tô Việt Nam - Daewoo có đơn khiếu nại giám đốc thẩm đối với bản án kinh tế phúc thẩm số 52/KTPT ngày 29-4-2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội, cho rằng cách tính tiền lãi quá hạn của Toà án cấp phúc thẩm không đúng với các quy định của pháp luật, làm thiệt hại cho Công ty Liên doanh ô tô Việt Nam - Daewoo 31.181,83 USD và đề nghị được giữ nguyên cách tính tiền lãi của Toà án cấp sơ thẩm.

Tại quyết định số 05/2004/KT-BTK ngày 23-12-2004, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án kinh tế phúc thẩm số 52/KTPT
ngày 29-4-2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội với lý do Toà án cấp phúc thẩm áp dụng không đúng các quy định của pháp luật trong cách tính tiền lãi quá hạn, làm thiệt hại cho nguyên đơn và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm theo hướng huỷ bản án kinh tế phúc thẩm nêu trên, giao hồ sơ vụ án cho Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại Kết luận số 05/KL-KT ngày 19-4-2005, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho rằng kháng nghị số 05/2004/KT-BTK ngày 23-12-2004 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao đối với bản án kinh tế phúc thẩm số 52/KTPT ngày 29-4-2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội là cần thiết, nhưng đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xử huỷ bản án kinh tế phúc thẩm số 52/KTPT ngày 29-4-2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội và giữ nguyên bản án kinh tế sơ thẩm số 37/KTST ngày 29-8-2003 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội.

Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao phát biểu ý kiến nhất trí với đề nghị trong bản kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.

xét thấy:

1. Về số tiền nợ gốc, Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm đã xác định đúng và buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn là đúng pháp luật.

2. Về tiền lãi

a. Đối với mức lãi suất:

- Về mức lãi suất trong hạn: Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm đều áp dụng mức lãi suất 9% năm do hai bên thoả thuận trong hợp đồng để tính tiền lãi trong hạn (lãi trả góp) là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 473 Bộ luật dân sự (“Lãi suất cho vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 50% của lãi suất cao nhất do ngân hàng nhà nước quy định đối với loại cho vay tương ứng”) và các quyết định số 197/QĐ-NH1 ngày 28-6-1997, số 309/1998/QĐ-NHNN1 ngày 10-9-1998, số 241/2000/QĐ-NHNN1 ngày 02-8-2000, số 718/2001/QĐ-NHNN ngày 29-5-2001 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước (công bố mức lãi suất cho vay bằng USD là 8, 5%/năm và 7, 5%/năm; lãi suất nợ quá hạn bằng 150% mức trần lãi suất cho vay).

-Về mức lãi suất quá hạn: Toà án cấp sơ thẩm và Toà án Cấp phúc thẩm đều áp dụng mức lãi suất 1,125%/tháng

(9%/năm x 150% =13,5%/năm; 12 tháng =1,125%/ tháng)

để tính tiền lãi quá hạn là đúng với quy định tại các quyết định của Thống đốc Ngân hàng nhà nước đã đựơc viện dẫn trên đây (lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay ghi trên hợp đồng).

b.Về loại lãi suất được áp dụng:

Khoản 2 Điều 313 Bộ luật dân sự quy định, “Trong trường hợp người có nghĩa vụ chậm trả tiền, thì người đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”;

Điểm b khoản 1 mục I thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19-6-1997 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Tài Chính hướng dẫn: “Trong trường hợp người có nghĩa vụ có lỗi thì ngoài khoản tiền nói trên còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.

Trong vụ án này, hai bên có thoả thuận trong hợp đồng “lãi suất phạt do trả tiền không đúng hạn là 2%/tháng” (bằng 266, 67% lãi suất trong hạn - cao hơn hẳn so với quy định của Ngân hàng Nhà nước), nhưng khi khởi kiện ra toà, VIDAMCO chỉ yêu cầu tính lãi suất phạt (lãi suất quá hạn) đúng theo quy định của Ngân hàng nhà nước là 150% lãi suất trong hạn:

9%/năm x 150/năm = 13,5%/năm; 13,5%/năm : 12 tháng = 1,125%/tháng.

Trong trường hợp cụ thể này, hai bên không thoả thuận trong hợp đồng và pháp luật cũng không quy định về việc tính tiềnh lãi quá hạn theo lãi suất tiền gửi tiết kiệm.

Toà án cấp sơ thẩm chỉ áp dụng mức lãi suất trong hạn và mức lãi suất quá hạn để tính tiền lãi trong vụ án này là đúng quy định của pháp luật.

Toà án cấp phúc thẩm áp dụng mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm (1,9%/năm) để tính tiền lãi quá hạn trong vụ án này là không đúng với các quy định của pháp luật đã viện dẫn trên đây.

c. Về thời gian phải chịu tiền lãi quá hạn:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật dân sự và điểm b khoản 1 mục I Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19-6-1997 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính đã viện dẫn trên đây, thì CIENCO 8 phải trả tiền lãi quá hạn theo lãi suất nợ quá hạn từ ngày chậm trả cho đến thời điểm xét xử sơ thẩm (28-8-2003).

Toà án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định trên của pháp luật. Tuy nhiên, khi tính thời gian phải chịu tiền lãi, theo quy định của pháp luật thì Toà án cấp sơ thẩm phải tính theo tháng (vì trong hợp đồng các bên thoả thuận tính tiền lãi quá hạn theo tháng), chỉ tính theo ngày đối với những ngày còn lại của tháng cuối cùng, thế nhưng Toà án cấp sơ thẩm tính toàn bộ thời gian phải chịu lãi bằng ngày là gây bất lợi cho bị đơn.

Toà án cấp phúc thẩm chỉ buộc CIENO 8 phải trả tiền lãi quá hạn theo lãi suất nợ quá hạn (1,125%/tháng) từ ngày chậm trả đến ngày Toà án cấp sơ thẩm tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án (17-11-1999), còn từ ngày tiếp theo (18-11-1999) đến ngày xét xử phúc thẩm (29-4-2004) lại buộc CIENO 8 phải trả tiền lãi quá hạn theo lãi suất tiền gửi tiết kiệm (1, 9%/năm) là không đúng với các quy định của pháp luật đã viện dẫn trên đây về thời gian phải chịu tiền lãi quá hạn và loại lãi suất áp dụng là gây bất lợi cho nguyên đơn. Về tính thời gian phải chịu tiền lãi, Toà án cấp sơ thẩm có sai lầm như đã phân tích ở trên, nhưng cũng không được Toà án cấp phúc thẩm khắc phục.

d. Về nhập tiền lãi vào nợ gốc để tính lãi:

Khoản 5 Điều 471 Bộ luật dân sự quy định: “Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ, thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi theo lãi suất nợ quá hạn của Ngân hàng nhà nước tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”.

Điểm a khoản 4 mục I Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19-6-1997 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính hướng dẫn “...Toà án chỉ chấp nhận việc nhập lãi vào nợ gốc một lần đối với loại vay có kỳ hạn giữa các bên ở ngoài tổ chức ngân hàng, tín dụng tại thời điểm đến hạn trả nợ mà người vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình”.

Toà án cấp sơ thẩm nhập tiền lãi trong hạn (lãi trả góp) một lần vào nợ gốc tại thời điểm đến hạn trả nợ mà CIENO 8 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ để tính tiền lãi quá hạn là đúng quy định của pháp luật.

Toà án cấp phúc thẩm đã nhập lãi vào nợ gốc hai lần để tính tiếp tiền lãi (đưa lãi trả góp vào nợ gốc để tính tiền lãi quá hạn đến ngày 17-11-1999, sau đó lại cộng thêm tiền lãi quá hạn này vào nợ gốc để tính tiếp tiền lãi từ ngày 18-11-1999 đến ngày xét xử phúc thẩm 29-4-2004 theo lãi suất tiền gửi tiết kiệm) là không đúng quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên và căn cứ vào khoản 3 Điều 291; khoản 3 Điều 297;
khoản 2 Điều 299 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quyết định:

1. Huỷ bản án kinh tế phúc thẩm số 52/KTPT ngày 29-4-2004 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử vụ án tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hoá (thanh toán hợp đồng mua bán xe ô tô trả góp) giữa Công ty liên doanh ô tô Việt Nam - Daewoo và Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

____________________________________________

- Lý do huỷ bản án phúc thẩm:

1. Toà án cấp phúc thẩm áp dụng loại lãi suất tiền gửi tiết kiệm để tính lãi quá hạn trong vụ án này là không đúng;

2. Toà án cấp sơ thẩm đã tính thời gian phải chịu tiền lãi quá hạn theo ngày (mà không phải theo tháng) là không đúng với quy định của pháp luật và thoả thuận của các bên trong hợp đồng;

3. Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm quyết định sai thời gian mà bị đơn phải trả tiền lãi quá hạn theo lãi suất nợ quá hạn, gây bất lợi cho nguyên đơn;

4. Toà án cấp phúc thẩm đã nhập tiền lãi vào gốc hai lần để tính lãi tiếp là không đúng với quy định tại khoản 5 Điều 471 của Bộ luật dân sự và hướng dẫn tại điểm a khoản 4 mục I Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19-6-1997 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ tài chính.

- Nguyên nhân dẫn đến việc huỷ bản án phúc thẩm:

Thiếu sót trong việc áp dụng các quy định của pháp luật về việc tính tiền lãi quá hạn.

  • Version 6
  • Download 0
  • File Size 0.00 KB
  • File Count 1
  • Create Date 2013-05-14
  • Last Updated 2020-06-05
File
QDGDT_so05-2005-KDTM-GĐT.doc
Thanh Toán Hợp Đồng Mua Bán Xe Ô Tô Trả Góp

Leave a Reply