Thiếu sót trong công tác giải quyết, xét xử các vụ án hình sự

Thiếu sót trong công tác giải quyết, xét xử các vụ án hình sự

Báo cáo số 15/BC-TA ngày 15/3/2019 của các Đoàn kiểm tra do các đồng chí Lãnh đạo và Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao làm Trưởng đoàn tiến hành kiểm tra tại 03 Tòa án nhân dân cấp cao, 16 Tòa án nhân dân cấp tỉnh và 48 Tòa án cấp huyện chỉ ra một số hạn chế, thiếu sót cần nghiêm túc rút kinh nghiệm để có giải pháp khắc phục trong thời gian tới trong các vụ án hình sự liên quan đến định tội danh, án treo, quyết định hình phạt, áp dụng pháp luật, nhận định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, xét xử phúc thẩm, cụ thể như sau

1. Thiếu sót về tội danh trong công tác giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm

  • Một số trường hợp định tội danh sai. Ví dụ:
  • Bị cáo dùng thủ đoạn đòi kiểm tra điện thoại của người bị hại để người bị hại đưa điện thoại, sau khi có được điện thoại bị cáo dùng tay đánh bị hại để chiếm đoạt điện thoại di độngế Tòa án xét xử bị cáo về 2 tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và cướp tài sản là không đúng. Trong trường hợp này bị cáo chỉ phạm tội cướp tài sản.

  • Bị cáo mua heroin cất giấu trên người để bán cho người nghiện, chưa kịp bán thì bị bắt quả tang. Tòa án xử tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là saiẽ
  • Nhiều trường hợp bị cáo dùng hung khí nguy hiểm tấn công liên tiếp vào vùng trọng yếu cơ thể nạn nhân; hành vi cấu thành tội Giết người nhưng Tòa án xử phạt bị cáo về tội cố ý gây thương tích là không đúng, vấn đề này, năm 2016, Đoàn kiểm tra đã rút kinh nghiệm với Tòa án 02 cấp tỉnh Cà Mau về những trường hợp tương tựẾ Tuy nhiên, năm 2018, Tòa án 02 cấp tỉnh Cà Mau vẫn còn để tình trạng này xảy ra là thực hiện chưa nghiêm kết luận của Đoàn Kiểm tra lần trước.

  • Một số vụ án có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm hoặc hành vi phạm tội trong cùng một vụ án .

2. Cho bị cáo hưởng án treo không đúng Nghị quyết số 01/2013/NQ- HĐTP ngày 01/11/2013, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trong công tác giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm

  • Một số vụ án bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, trong đó, hậu quả làm chết người, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo, nhưng vẫn được Tòa án cho hưởng án treo hoặc phạt tiền là không đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống loại tội phạm này tại địa phương.
  • Có trường hợp bị cáo phạm tội nhiều-lần, thu lợi bất chính số tiền lớn hoặc phạm tội có tính chất côn đồ, hoặc là đối tượng chủ mưu, cầm đầu, phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án, hoặc có nhân thân xấu; hoặc sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn, Cơ quan tiến hành tố tụng đã có quyết định truy nã nhưng vẫn cho bị cáo hưởng án ừeo.
  • Có trường hợp Tòa án lạm dụng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để xử phạt các bị cáo dưới khung hình phạt và giảm tới mức đủ điều kiện để cho các bị cáo được hưởng án treo.
  • Một số bản án không thể hiện rõ tên ủy ban nhân dân xã được giao giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách và không tuyên bị cáo bị áp dụng hình phạt tù theo khoản 5 Điều 65 BLHS, nếu vi phạm nghĩa vụ thi hành án.

3. Quyết định hình phạt nặng, nhẹ không phù hợp với tính chất, mức độ của hành vỉ phạm tội; vị trí, vai trò phạm tội của các bị cáo trong công tác giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm

  • Có nhiều vụ án áp dụng hình phạt chưa tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, bị cáo có tình tiết tăng nặng như: Phạm tội nhiều lần hoặc tái phạm nhưng cho hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt. Có vụ án bị cáo chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ nhưng Tòa án quá nhấn mạnh tình tiết giẫm nhẹ để cho bị cáo được hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Có trường họfp, ừong cùng một vụ án, hình phạt đối với các bị cáo không công bằng.
  • Có trường hợp vụ án bị cáo là người chủ mưu cầm đầu, lên kế hoạch, chọn địa điểm, rủ rê, lôi kéo và tổ chức phân công các đối tượng trong nhóm cùng thực hiện tội phạm, thể hiện rõ là phạm tội có tổ chức nhưng Hội đồng xét xử nhận định các bị cáo chỉ là đồng phạm giản đơn, không có sự thông mưu từ trước, từ đó dẫn tới áp dụng không đúng pháp luật.
  • Một số trường hợp bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có căn cứ để cho bị cáo được hưởng án treo nhung lại xử phạt bị cáo tù giam.
  • Một số trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, trong đó bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ hoặc chỉ có một tình tiết giảm nhẹ TNHS nhưng Tòa án xử mức khởi điểm của khung hĩnh phạt hoặc quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là quá nhẹ, không có tác dụng đấu tranh phòng chống tội phạm. Ví dụ: Bị cáo 02 lần giao cấu với người dưới 16 tuổi, bị kết án theo điểm a khoản 2 Điều 115 BLHS năm 1999 có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 10 năm nhưng Tòa án xử phạt bị cáo 02 năm tù hoặc Bị cáo giao cấu với người dưới 13 tuổi bị kết án theo khoản 2 Điều 142 BLHS năm 2015, xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Hoặc hành vi “Giết người” của bị cáo rất quyết liệt, hung hãn, mặc dù bị cáo có tĩnh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoản 1 Điều 46 nhưng chỉ phạt bị cáo 07 năm tù (bằng mức khởi điểm của khung hình phạt tại khoản 2 Điều 93 BLHS 1999) là nhẹ, không tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.
  • Có một số bản án, Tòa án đều nhận định rằng hiện nay, tình hình an ninh trật tự liên quan đến loại tội phạm vi phạm về an toàn giao thông đường bộ xảy ra trên địa bàn ngày càng gia tăng, người tham gia giao thông chủ quan khi điều khiển phương tiện, bất chấp luật giao thông nên cần đưa vụ án ra xét xử nhanh và
    nghiêm khắcệ Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt thì đều quyết định hình phạt quá nhẹ.
  • Số tiền mà bị cáo bồi thường hoặc khắc phục hậu quả rất nhỏ so với số tiền phải bồi thường, phải khắc phục hậu quả, nhưng Tòa án áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS 2015, là đánh giá việc bôi thường, khắc phục hậu quả của vụ án chưa đúng dẫn tới xử dưới khung hoặc áp dụng tình tiết giảm nhẹ không đúng.
  • Một số vụ án về “Đánh bạc”, các bị cáo có nhân thân xấu, số tiền đánh bạc lớn nhưng Tòa án áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền là không nghiêm, không có tính răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung .

4. Rút kinh nghiệm về việc áp dụng pháp luật không thống nhất trong công tác giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm

Có trường hợp ở cùng một địa phương, có trường hợp hai vụ án tình tiết tương tự nhau nhưng việc áp dụng pháp luật khác nhau, có vụ cho hưởng án treo, có vụ xử án tù giam là không thống nhất.

5. Nhận định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS không đúng trong công tác giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm

  • Hành vi phạm tội của bị cáo rất quyết liệt, cố tình thực hiện tội phạm đến cùng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm e khoản 1 Điều 48 BLHS là bỏ sót tình tiết tăng nặng.
  • Một số bản án xét xử các bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Trộm cắp tài sản” nhưng không áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” trong khi. các bị cáo đều lừa đảo, trộm cắp của nhiều người, số tiền chiếm đoạt của mỗi người đều đủ định lượng cấu thành tội phạm .
  • Ập dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS chưa đúng, bị cáo chưa thành khẩn khai báo nhưng vẫn áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS 1999; bị cáo nộp tiền thu lợi bất chính, nộp tiền phạt hoặc bị cáo có đơn xin cải tạo tại địa phương và được chính quyền địa phương xác nhận (hoặc đồng ý bảo lãnh) nhưng lại áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 BLHS 1999; bị cáo bị nhiễm HIV cũng coi là tình tiết giám nhẹ TNHS theo khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 là không đúng.

6. Áp dụng không đúng quy định tại Điều 7 BLHS năm 2015, hướng dẫn tại Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội và Công văn số 04/TANDTC-PC ngày 09/01/2018 cua TANDTC trong công tác giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm

  • Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội tại thời điểm BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2009 có hiệu lực. Tòa án nhận định BLHS năm 2015 có lợi hơn so với BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2009, hoặc nhận định 2 điều luật tương ứng nhưng khi quyết định lại áp dụng quy định BLHS sửa đổi, bổ sung 2009 là không đúng Nghị quyết 41 ề
  • Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thời điểm BLHS năm 1999 có hiệu lực pháp luật. Trong phần nhận định về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, TA có nhận định áp dụng nguyên tắc có lợi cho người phạm tội theo Nghị quyết 41, nhưng không nêu rõ có lợi như thế nào, về tội danh, hình phạt hay điều luật áp dụng.

7. Vẫn còn tình trạng khi quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung chưa nghiên cứu kỹ nội dung vụ án nên việc trả hồ sơ chưa đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành trong công tác giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm

 

8. Thiếu sót trong cộng tác giải quyết, xét xử theo thủ tục phúc thẩm

Ngoài các sai sót như các Tòa án cấp sơ thẩm nêu tại tiểu mục từ (1) đến (6) nêu trên, một số vụ án Tòa án cấp phúc thẩm còn có các sai sót sau:

8.1. Sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo không có căn cứ:

  • BỊ cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nhưng Tòa án cấp phúc thẩm nhận định bị cáo có hoàn cảnh khó khăn và nêu lại các tình tiết giảm nhẹ mậ Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng để giảm hình phạt, hoặc xử dưới khung, cho hưởng án treo hoặc chuyển sang hình phạt tiền là không có căn cứ.
  • Các bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ, cố ý thực hiện tội phạm đến cùng, dùng dao nhiều lần chém vào người và cắt cổ người bị hại. Hành vi của các bị cáo có dấu hiệu của tội “Giết người”ẵ Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo bị cáo mức án khởi điểm của .khung hoặc dưới khung hình phạt về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điều 104 Bộ luật hình sự đã là nhẹ. Tòa án cấp phúc thẩm tiếp tục giảm hình phạt cho bị cáo là không đúng quy định của pháp luật.
  • Một số trường hợp cho hưởng án ữeo không đúng, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm’ trọng, gây hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng; bị cắo có nhiều tình tiết giảm nhẹ đã được cấp sơ thẩm áp dụng để quyết định hình phạt dưới mức thấp- nhất, của khung hình phạt nhưng cấp phúc thẩm tiếp tục áp dụng các tình tiết giấm .nhẹ này để cho bị cáo hưởng án ừeo; áp dụng tình tiết để cho bị cáo hưởng ận treo không có căn cứ như “Bị cáo tha thiết xin hưởng án treo ”, “Đại diện người bị hại thiết tha xin cho bị cáo được hưởng án treo ”, “bị cáo có đơn xin cải tạo tại địa phương và được địa phương bảo lãnh xin cho hưởng án treo và cam kết theo dõi, quản lý giám sát giáo dục bị cáo ”
  • Trong một sỗ vụ án “Đánh bạc”, bị cáo là người cầm đầu, khởi xướng và cũng là người ‘thực hành tội phạm tích cực nhất; quá trình giải quyết vụ án không thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng thêm điểm b (khắc phục, bồi thường thiệt hại) khoản 1 Điều 46 BLHS đối với bị cáo là không chính xác và cho bị cáo được hưởng án treo là chưa nghiêm.
  • Nhiều trường hợp Tòa án nhận định về việc bị cáo có xác nhận về việc lập công phòng, chống tội phạm nhưng không đánh giá thực chất có lập công hay không .
  • Một số trường hợp giảm hình phạt từ tử hình xuống tù chung thân hoặc tù chung thân xuống tù 20 năm thiếu căn cứ. Có trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo tử hình là đúng pháp luật, Bản án phúc thẩm nhận định đối với bị cáo: “Bị cáo là người còn khả năng tự cải tạo; bởi lẽ, đây là lần đầu bị cáo phạm tội, bị cáo chưa bao giờ được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, chưa một lần được tạo điều kiện để sửa chữa, cải tạo trở thành người tốt” đế giảm hình phạt cho các bị cáo xuống tù chung thân là không có cơ sở .
  • Một số bản án Tòa án sửa bản án sơ thẩm, cho các bị cáo hưởng án treo căn cứ vào các điều kiện hoãn thi hành án, không có tình tiết nào mới là không thuyết phục.
  • Một số vụ án bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, khung hình phạt cao nhưng Tòa án cấp phúc thẩm giảm để cho bị cáo hưởng án treo .

8.2. Có trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm xử nhẹ hoặc có sai lầm nghiêm trọng (trường hợp không có kháng cáo, kháng nghị hoặc chỉ có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt), nhưng Hội đồng xét xử phúc thẩm không kiến nghị người có thẩm quyền xem xét lại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm.

8.3. Ngoài ra, còn có một số sai sót khác như đường lối xét xử các vụ án giết người, cố ý gây thương tích khá nhẹ so với quy định của pháp luật; có vụ án cấp phúc thẩm có thể sửa án sơ thẩm nhưng lại hủy một phần án sơ thẩm để xét xử lại. Có vụ án Tòa án cạp phúc thẩm nhận định Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo lả đúng người, đúng tội; tuy nhiên, lại cho rằng việc Thư ký ghi biên bản phiên tòa sơ thẩm không ký xác nhậri vào biên bản phiên tòa là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được để hủy toàn bộ bản án sơ thẩm giao về cấp sơ thẩm xét xử lại với HĐXX mới là không cần thiết.

8.4. Xét xử phần dân sự trong vụ án hình sự không đúng:

Các bị cáo cùng gây thương tích cho người bị hại nên phải chịu ữách nhiệm liên đới bồi thường cho người bị hại. Tòa án cấp phúc thẩm và Tòa án cấp sơ thẩm đều không căn cứ vào Điều 587 BLDS để tuyên trách nhiệm liên đới mà lại chia theo phần ừách nhiệm bồi thường là không chính xác. Không nhận định mức độ lỗi của các bị cáo mà chia luôn cho cha mẹ các bị cáo phải bồi thường theo phần. Không áp dụng khoản 2 Điều 586 BLDS “Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình, trường hợp không đủ tài sản  để bồi thường thì cha mẹ phải bồi thường phần còn thiếu cấp phúc thẩm lại buộc luôn cha mẹ bị cáo bôi thường là không đúng.

8.5. Một số sai. sót, về tố tụng khác như:

  • Có trường hợp người bị. hại chỉ kháng cáo phần dân sự nhưng Tòa án cấp pHúc thẩm vẫri giải quyết cả phần hĩnh sự.
  • Trong Vụ án Chống người thi hành công vụ, Tòa án xác định các cán bộ công ẩn tham gia Đội kiểm ừa, kiểm soát giao thông là người bị hại là không đúng. Trong tniờng hợp này, phải xác định họ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
  • về việc ra Lệnh tạm giam: vẫn còn tình ừạng ra lệnh tạm giam chậm so với quy định dẫn tới các bị cáo bị giam giữ không có lệnh; nhiều trường hợp bị Viện Kiểm sát có. công văn nhắc nhở./.

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *